#1  
Cũ
25-05-2009, 10:40 PM
 
Avatar của chienbinhbongda
 
Tài năng trẻ
Tuyển U23
 
Trận đấu đầu tiên: 10 Aug 2008
Đến từ: Hà Nội
Vị trí: Tiền vệ phải (MR)
Chơi cho: ManU
ĐTQG : Anh
Số trận: 1,650
Tài sản: 124,711.70
Chuyền bóng: 1,509
Ghi được 682 bàn, trong 389 trận đấu
Banked VND: 14611.49
Digg this Post!Bookmark Post in TechnoratiShare on FacebookSpurl this Post!Reddit!Wong this Post!
Mặc định Các Đội Bóng Tham Gia Ngoại Hạng Anh 2009 - 2010

1.Arsenal


THÀNH TÍCH Ở GIẢI NGOẠI HẠNG

Arsenal được coi là một trong những ông lớn của bóng đá Anh và là một đối thủ thường trực cạnh tranh các danh hiệu bóng đá hàng đầu.

Đội Arsenal dưới sự dẫn dắt của HLV bí ẩn người Pháp Arsen Wenger đã xoá bỏ được hình ảnh buồn tẻ của mình mà thay vào đó bắt đầu cống hiến một thứ bóng đá hấp dẫn.

Nhờ ảnh hưởng to lớn của Tony Adam trong thời gian đầu cũng như nhờ các hợp đồng tuyển dụng cầu thủ rất sắc sảo tinh khôn như các trường hợp của Thierry Henry, Patrick Viera (sau đó đã chuyển sang Juventus) và Freddie Ljungberg, Arsenal đã leo lên nhóm hàng đầu.

Thành tích cao nhất đội là giành được cú đúp: cúp Ngoại hạng và cúp FA trong năm 2002, bổ xung vào chuỗi thành tựu mà đội bóng phía bắc thành London đạt được trong thập niên cuối là 3 lần về nhì giải ngoại hạng tính đến mùa giải 1998. Hàng thủ truyền thống nổi tiếng của Arsenal đã có phong thái mới, tuy nhiên điều quan trọng là hàng trung vệ và tấn công đã được thay đổi, tuyển mộ mới đủ để đảm bảo với các cổ động viên rằng họ sẽ được tiếp tục chứng kiến những thành tựu của đội bóng như những người tiền nhiệm.

Trong mùa giải 2003/2004 bằng một chuỗi trận đấu bất bại đầy bất ngờ và chưa có tiền lệ, các khẩu pháo thành London đã bổ xung vào bảng thành tích của mình cúp ngoại hạng thứ ba trong triều đại của Wenger. Trong mùa giải 2006/2007 các khẩu pháo thành London sẽ rời sân vận động Highbury, sân nhà của họ từ 93 năm nay để chuyển đến sân vận động mới Emirates Stadium lộng lẫy.

LỊCH SỬ CLB

CLB thành viên giầu thành tích nhất của giải ngoại hạng ở khu vực London này đã do công nhân các nhà máy ở Royal Arsenal, Woolwich thành lập với cái tên ban đầu là Dial Square sau đó mới đổi thành Royal Arsenal vào năm 1886.

Năm 1891 CLB lại được đổi tên thành Woolwich Arsenal và sau đó chỉ giữ lại tên phần tên chính là Arsenal đồng thời chuyển đến sân Highbury vào năm 1913. Đội bóng phải chờ đến năm 1930 mới có được thời kỳ đầy thắng lợi liên tục đầu tiên với 5 lần vô địch giải hạng nhất (lúc đó ở Anh chưa có giải ngoại hạng) dưới sự dẫn dắt của Herbert Chapman và George Allison.

Một cặp cúp vô địch khác đến với CLB ngay sau chiến tranh thế giới thứ 2 và tiếp theo đó không lâu là chiến thắng đúp vô địch quốc gia và cúp FA trong năm 1971. Giai đoạn kém cỏi sau đó chấm dứt khi người hùng của năm 1971 George Graham được cử lãnh đạo CLB vào năm 1986 và những ngày vinh quang lại trở lại. Hai chức vô địch Liên đoàn, hai cúp giải ngoại hạng, cúp FA và cúp các đội đoạt cúp châu Âu (Cúp C2) tất cả được CLB gom trong trong một triều đại kéo dài 9 năm của Graham.

HLV người Pháp Arsene Wenger được cử làm lãnh đạo của các khẩu pháo thành London từ năm 1996 và chuỗi thành tích lại tiếp tục. Danh hiệu vô địch giải ngoại hạng đầu tiên đã làm được một nửa chiến thắng đúp năm 1998. Đội đạt được danh hiệu vô địch giải ngoại hạng thứ nhì năm 2002 sau khi kết thúc mùa giải với 28 trận bất bại trên sân nhà và cũng được nâng thành chiến thắng đúp khi đội giành chiến thắng trong trận chung kết cúp FA.

Wenger cũng đã dẫn dắt các pháo thủ tới trận chung kết cúp C1 (UEFA Cup) năm 2006. Trong trận này hy vọng của đội bóng đã bị sứt mẻ khi thủ môn Jens Lehman phải sớm rời sân, nhưng cú đánh đầu của Sol Campbell đã giúp cho Arsenal có lợi thế trong hiệp 1. Tuy nhiên Barcelona đã lội được ngược dòng với hai bàn thắng và giành được danh hiệu vô địch ở Paris.

* Giải vô địch quốc gia: 13
o 1931, 1933, 1934, 1935, 1938, 1948, 1953, 1971, 1989, 1991
o 1998, 2002 & 2004
* Cúp FA: 10
o 1930, 1936, 1950, 1971, 1979, 1993, 1998, 2002, 2003, 2005
* Cúp Liên đoàn bóng đá Anh: 2
o 1987, 1993
* Siêu cúp bóng đá Anh: 12
o 1930, 1931, 1933, 1934, 1938, 1948, 1953, 1991*, 1998, 1999
o 2002, 2004
* Cúp C2: 1
o 1994
* Cúp UEFA: 1
o 1970



2. Aston Villa


THÀNH TÍCH Ở GIẢI NGOẠI HẠNG

Aston Villa đoàn kết lại thành một đội hình rất mạnh giúp CLB trụ vững và phát triển ở giải ngoại hạng. Hàng thủ của Valla được xây dựng chung quanh cầu thủ hậu vệ người Thuỵ Điển đầy kinh nghiệm Olof Mellberg và thủ môn người Đan Mạch Thomas Sorensen trong khi tài năng nổi bật Steven Davis có thể sáng chói ở khu trung tuyến. Ron Atkinson đã đưa Aston Villa đến sát danh hiệu vô địch giải ngoại hạng trong năm 1993 nhưng rồi bị Manchester United đánh bại. Năm sau Atkinson đã vượt qua đội bóng cũ của mình (MU) trong trận chung kết cúp Liên đoàn (League Cup) năm 1994 và người kế nhiệm Brian Little đã không chịu thua kém với chiến thắng 3-0 trước Leed United vào năm 1996. John Gregory tiếp tục giữ phong độ cao cho đội, không bao giờ tụt xuống nửa dưới ở giải ngoại hạng trong suốt thời gian cầm quyền của ông. Việc có mặt trong trận tứ kết UEFA Cup năm 1998 là một thành tích nổi bật của đội bóng nổi tiếng là khó đánh bại. Cựu lãnh đạo đội tuyển Anh Graham Taylor, người đã đưa Villa đến vị trí Á quân trong năm 1990 của giải hạng nhất trước đây đây đã trở lại CLB năm 2002 với một nhiệm kỳ ngắn đến tháng 3-2003. Cựu lãnh đạo CLB Leed Đavi O*leary kế nhiệm và lãnh đạo đội 3 năm trước khi rời Villa Park (sân nhà của Aston Villa) vào tháng 7 năm 2006 trong một "sự chia tay thân thiện" và được thay thế bằng HLV người Ireland Martin O*Neill. Thành phần Ban giám đốc cũng có thay đổi khi triệu phú người Mỹ Randy Lerner thay thế ông Doug Ellis làm chủ tịch CLB vào tháng 9 năm 2006.

CLUB

Là thành viên sớm của Liên đoàn bóng đá Anh từ 1888, Aston Villa là một trong những CLB thành viên sáng lập giải ngoại hạng Anh. Thành lập cuối năm 1874, ngay trong những năm đầu CLB Aston Villa đã giành được hàng loạt danh hiệu, chiến thắng kể cả trong cúp FA. Việc chuyển từ sân nhà trước đây Perry Barr đến sân vận đọng mới Villa Park vào năm 1897 đã được tiến hành một tuần lễ sau chiến thắng đúp của đội ở cả giải Liên đoàn lẫn cúp FA năm đó. Các cầu thủ Villa đã giành được chức vô địch Liên đoàn thứ sáu năm 1910 và sau đó bảng thành tích của họ lại được bổ xung thêm hai cúp FA vào các năm 1913 và 1920. Chiến thắng ở cúp FA năm 1957 và cúp Liên đoàn năm 1961 làm đầy thêm phòng trưng bày các cúp bạc của CLB, nhưng đến năm 1970 Aston Villa bị rớt xuống chơi ở giải bóng đá hạng B,.tuy nhiên CLB lại được hưởng niềm vui trở lại giải ngoại hạng và còn giành thêm 2 chức vô địch và đồng thời ghi tên vào nhóm các đội hàng đầu bằng chiến thắng vĩ đại nhất của mình là cúp châu Âu năm 1982 (cúp C1, chiến thắng Bayern Munich). Aston Villa rớt khỏi giải ngoại hạng năm 1987 nhưng ngay lập tức quay trở lại và một cặp cúp Liên đoàn trong những năm 1990 đã giúp đội phát triển mạnh mẽ trong giải ngoại hạng, nhờ đó đã giành vị trí thứ hai trong năm 1993 dưới sự dẫn dắt của Ron Atkinson. HLV Graham Taylor người đã rời Villa năm 1990 để phụ trách đội tuyển Anh nay đã quay lại điều hành CLB năm 2002. HLV Taylor ra đi tháng 5-2003, được David O*leary thay thế. HLV người Ireland này dẫn dắt CLB 3 năm trước khi rời CLB thông qua một bản thoả thuận vào tháng 6-2006 và Martin O*Neill thay thế.

Bảng thành tích của CLB:

* Giải vô địch quốc gia: 7
o 1894, 1896, 1897, 1899, 1900, 1910, 1981
* Cúp FA: 7
o 1887, 1895, 1897, 1905, 1913, 1920, 1957
* Cúp Liên đoàn bóng đá Anh: 5
o 1961, 1975, 1977, 1994, 1996
* Siêu cúp bóng đá Anh: 1
o 1981* (* đồng đoạt cúp)
* Cúp C1: 1
o 1982, 1-0 (thắng FC Bayern München)
* Siêu cúp bóng đá châu Âu: 1
o 1983
* Cúp Intertoto: 1
o 2001



3. Blackburn Rovers


Tên đầy đủ: Blackburn Rovers Football Club

Năm thành lập: 1875

Biệt danh: The Rovers

Sân nhà: SVĐ Ewood Park, sức chứa 42.533 chỗ

Chủ tịch: John Williams

HLV: Paul Ince

Giải đấu: Giải ngoại hạng Anh và Cúp FA.

THÀNH TÍCH Ở GIẢI NGOẠI HẠNG

Trải nghiệm của Blackburn Rovers tại giải ngoại hạng Anh là một trong những câu chuyện lý thú nhất. Được thăng hạng lên chơi ở giải ngoại hạng ngay trong mùa đầu tiên 1992 sau 26 năm nằm ngoài tốp cao nhất, Rovers trở thành đội bóng đầu tiên giành được vương miện từ Manchester United trong năm 1995. Jack Walker đã mua CLB và nhắm tới việc chấm dứt phong độ làng nhàng, xoàng xĩnh của đội bóng trong giải hạng hai cũ và giấc mơ của ông đã trở thành hiện thực sau khi một trong những danh hiệu hấp dẫn nhất của giải ngoại hạng đến. Alan Shearer và Chris Sutton mang lại sức mạnh cho đội bóng và cuối cùng đã mang chức vô địch về sân Ewood Park. Tuy nhiên con đường của Rovers đã rẽ sang hướng khác. Họ trở thành CLB đầu tiên của giải ngoại hạng bị tụt hạng vào năm 1999. Walker buồn bã ra đi một năm trước khi ông có thể nhìn thấy CLB Rovers yêu quí của mình quay lại hạng cao nhất trong mùa giải 2001/2002. Thắng lợi hoành tráng trước Tottenham Hotspur trong trận chung kết cúp Liên đoàn đã là chất xúc tác cho việc kết thúc tốt đẹp mùa giải trong đó Rovers xếp thứ mười, nằm trong nửa trên của bảng ngoại hạng. Tiếp đó Rovers giành được một suất thi đấu ở các giải châu Âu nhờ kết thúc mùa giải 2002/2003 ở vị trí thứ 6. Tuy nhiên trong mùa giải tổn thương 2003/2004 đội đã bị rớt xuống đất bởi một năm đáng thất vọng: bị loại sớm khỏi giải châu Âu và chỉ về thứ 15 trong giải ngoại hạng. Nhưng sau đó dưới sự dẫn dắt của HLV mới Mark Hughes, cựu cầu thủ của đội, thay thế cho Graem Souness vào tháng 9-2004 CLB đã trở lại tốp trên và quay lại với các giải châu Âu nhờ kết thúc mùa giải 2005/2006 ở vị trí thứ 6 ở giải ngoại hạng.

LỊCH SỬ CLB

CLB bóng đá Blackburn Rovers được các học sinh những lớp cuối của các trường tư thục nội trú ở thành phố Blackburn ở vùng Lancashire nước Anh thành lập năm 1875. Giai đoạn lịch sử ban đầu của CLB gắn với những chiến thắng liên tục giành cúp FA. Mãi đến năm 1912 danh hiệu vô địch giải hạng nhất mới đến sân Ewood Park lần đầu tiên nhưng Rover đã tiếp tục được truyền thống này và giành danh hiệu vô địch tiếp theo 2 năm sau đó. Cựu cầu thủ con cưng của Blackburnvà đội tuyển Anh Crompton được cho là có công trong trận chung kết thắng lợi trước Huddersfiel năm 1928 và mang về cúp FA nổi tiếng đồng thời CLB cũng giành được một chỗ trong tốp cao nhất của bóng đá Anh tới tận 1936. Blackburn tiếp tục là đội bóng chơi ở giải hạng 3 trong những năm 1970 cho đến khi nhà công nghiệp kinh doanh thép ở địa phương Jack Walker đã thay đổi vận mệnh của đội bóng. Sự hỗ trợ tài chính của Walker và sự lựa chọn khôn ngoan Kenny Dalgish làm HLV năm 1991 đã mang lại kết quả là Rovers được thăng hạng và trở thành thành viên sáng lập của giải ngoại hạng năm 1992. CLB đã đạt được thành tựu cao nhất trong lịch sử 80 năm của mình vào năm 1994 bằng vị trí thứ nhì của giải ngoại hạng chỉ chịu thua MU, trước khi đội tiến lên phía trước trong năm tiếp theo giành chức vô địch năm 1995 trong một trận chung kết vô cùng hồi hộp.

Thành tích

* Vô địch Giải vô địch quốc gia (3 lần): 1912, 1914, 1995
* Cúp FA (6 lần): 1884, 1885, 1886, 1890, 1891, 1928
* Cúp Liên đoàn bóng đá Anh (1 lần): 2002
* Siêu cúp bóng đá Anh (1 lần): 1912



4. Bolton Wanderers


THÀNH TÍCH Ở GIẢI NGOẠI HẠNG

Bolton được lên giải ngoại hạng dưới sự dẫn dắt của HLV Bruce Rioch, nhờ chiến thắng Reading trong trận chung kết vòng đấu loại giải hạng nhất. Sau khi bị dẫn trước 0-2 ở hiệp nhất, 2 bàn thắng của Bolton trong 15 phút cuối đã dẫn đến đá thêm giờ, trong đó họ đã gianhg thắng lợi 4-3 để được gia nhập thứ hạng cao nhất của bóng đá Anh sau 15 năm vắng mặt. Sau khi giúp đội thăng hạng HLV Rioch chuyển đến Arsenal và cựu HLV Derby County là Roy McFarland đến thay, nhưng đến đầu năm 1996 cũng phải nhường chỗ cho Colin Todd, người đã không cứu được Bolton phải rớddaxhangj nhưng vẫn được ban lãnh đạo CLB tin tưởng tiếp tục giao nhiệm vụ dẫn dắt đội bóng. Sự tin tưởng này đã có đượ kết quả xứng đáng, đội bóng giành được chức vô địch giải hạng nhất và được lên giải ngoại hạng nhờ giành đợc 98 điểm và ghi 100 bàn thắng trong mùa giải. Mùa giải 2001/2002 sau 3 trận thắng liên tiếp phong độ của Bolton đi xuống và đội đã phải chiến đấu vất vả để trụ được hạng. Rất may là trong mùa giải 2002-2003 Bolton đã vùng lên, chiến thắng Middlesbrough 2-1 nhờ bàn thắng của Frandsen và Jay Jay Okocha. Trong mùa tiếp theo mặc dù khởi đầu không tốt lắm thua liền Manchester City, Manchester United và cả đội mới lên giải ngoại hạng Portmouth nhưng về được thứ 8, cao hơn nhiều so với dự đoán. Những tiến bộêâns tượng của Bolton tiếp tục trong mùa giải 2004/2005 khi đội xếp thứ sáu (bằng số điểm nhưng đứng sau đội Liverpool xếp thứ 5 do cách biệt bàn thắng lớn hơn) và lần đầu tiên trong lịch sử của đội giành được một suất đấu ở cúp UEFA.Sự phục hưng của Bolton kéo dài sang mùa giải 2005/2006 với vị trí thứ 8 ở giải ngoại hạng. Lần đầu tiên thi đấu ở giải châu Âu, đội đã thắng Locomotive Plovdiv ở vòng loại, vượt qua vòng bảng và chỉ chịu thất bại trước Marseille ở vòng 32 đội. Tháng 8-2006 Bolton đã tự phá vỡ kỷ lục của mình bỏ ra tới 8 triệu Bảng để mua tiền đạo người Pháp Nicolas Anelkatừ CLB Thổ Nhĩ kỳ Febnerbahce và cầu thủ này đã ghi bàn trong trận thắng 3-1 trước Arsenal , CLB cũ của Anelka. Bolton tham dự cúp UEFA lần thứ hai năm 2007 nhờ trận hoà cuối cùng 2-2 với Aston Villa và hơn điểm Reading xếp thứ 7. Mùa bóng 2006/2007 đánh dấu lần thứ 6 liên tiếp Bolton chơi ở giải ngoại hạng và với HLV mới Sammy Lee thay thế cho Allardyce ra đi vào tháng 4-2007, đội bóng quyết tâm tiếp tục sự tiến bộ trong mùa giải mới.

LỊCH SỬ CLB

Được thành lập năm 1874 CLB Bolton Wanderers là thành viên sáng lập Liên đoàn bóng đá Anh vào năm 1888 và là đội giành cúp FA đầu tiên nhờ chiến thắng trận chung kết năm 1923 tại sân Wembley. Đôi tiếp tục được hưởng niềm vinh quang của chiếc cúp danh giá này vào các năm ngay sau là 1926 và 1929, đồng thời có vị trí cao trong giải hạng nhất, có mặt trong nhóm 3 đội đầu bảng các năm 1921 và 1925. Cầu thủ huyền thoại Nat Lofthouse đã mang về chiếc cúp FA thứ tư vào năm 1958 bằng hai bàn thắng nổi tiếng trong trận chung kết thắng Manchester United 2-0. Sau một thời kỳ suy thoái trầm trọng đội phải chơi ở giải hạng tư vào năm 1987. Nhưng sự phục hồi ngoạn mục đã giúp đội thăng hạng lên giải ngoại hạng chỉ trong một mùa bóng thông qua đấu loại vào năm 1995. Cũng năm đó sân vận động Burnden Park kỷ niệm 100 năm và việc chuyển đến sân Reebok Stadium lúc đó còn khó khăn mà phải chờ đến 2 năm sau đội mới thực hiện được. Sân nhà mới rất ấn tượng của WWanderers nhanh chóng lại được tiếp đón các đội bóng đá đỉnh cao sau khi đội dễ dàng giành chức vô địch giải hạng nhất vào năm 1997 và lại thăng hạng tiếp trong mùa bóng 2000/2001 khi họ duy trì được phong độ ngoại hạng của mình. Kết thúc ấn tượng mùa giải 2004/2005 ở vị trí thứ 6 giải ngoại hạng cho phép đội được nếm thử mùi vị của đấu trường bóng đá châu Âu trong giải cúp UEFA.

THÀNH TÍCH

Cúp FA (4): 1923, 1926, 1929, 1958
Giải nhì cúp FA: 1894, 1904, 1953
Giải nhì cúp Liên đoàn: 1995, 2004
Siêu cúp FA: 1958
Thứ nhì Giải vô địch hạng nhất: 1997
Giải vô địch hạng hai: 1909, 1978
Thứ ba Giải vô địch hạng ba: 1973
Giải Sherpa Van Trophy: 1989
Thứ nhì giải Freight Rover Trophy: 1986
Cúp Lancashire: 1886, 1891, 1912, 1922, 1925, 1927, 1932, 1934, 1948, 1988, 1990, 2007
Giải vô địch Liên đoàn miền Trung: 1955, 1995
Giải vô địch Liên đoàn miền Bắc: 2007



5. Chelsea


THÀNH TÍCH Ở GIẢI NGOẠI HẠNG

Chelsea là một trong những CLB thành công nhất của bóng đá Anh. Đội bóng thành London này đã trở lên thịnh vượng kể từ ngày giải ngoại hạng khởi tranh năm 1992 và chủ tịch CLB Ken Bates đã được chứng kiến sự phát triển mạnh mẽ của CLB cũng nhưng của sân vận động Stampford Bridge lộng lẫy.

Khi Ruud Gullit tiếp nhận việc dẫn dắt nhằm mở ra một kỷ nguyên mới cho đội bóng thì thứ hạng của Chelsea rất xoàng xĩnh ở khoảng giữa của bảng ngoại hạng. HLV người Hà Lan này đã lôi cuốn được một số cầu thủ tầm cỡ thế giới về sân Stampford Bridge như Roberto Di Matteo avf Franco Zola và họ nhanh chóng trở thành những người hùng của đội quân áo xanh.

Thương hiệu bóng đá rất hấp dẫn của Chelsea giúp đội về thứ sáu giải ngoại hạng trong năm 1997 và cùng với chiếc cúp FA đội bóng đã chứng minh được sự tiến bộ của mình. Năm 1998 khi Gullit ra đi và Gianluca Vialli thay thế đã đưa đội lên vị trí thứ tư giải ngoại hạng và mang về chiếc cúp của các đội đoạt cúp châu Âu (C2) cùng với một số cúpLiên đoàn khác.

Những tên tuổi lớn của bóng đá tiếp tục đến với đội bóng gồm cả những cầu thủ vô dịch thế giới như Marcel Desailly và Didier Deschamps. Chiếc cúp FA thứ ba đã đến vào năm 2000 trước khi Viali nhường chức cho Claudio Ranieri, người đã đưa ra một hình mẫu đội bóng có tính cạnh tranh cao, mang đến cho đội bóng vị trí trong 6 đội liên tiếp 4 năm liền cho tới khi ông ra đi vào tháng năm 2004.

Một chương mới mở ra cùng với việc người chủ mới của CLB là tỷ phú người Nga Abramovich đã chi nhiều triệu Bảng để đưa về những tên tuổi lớn của bóng đá trong đó có Didier Drogba, Arjen Robben và Joe Cole.HLV từng đoạt chức vô địch Jose Mourinho được bổ xung vào đội ngũ của Chelsea từ tháng 6-2004 và đã giành được chiếc cúp bạc đầu tiênhờ thắng Liverpool trong trận chung kết cúp Carling.

Gần 1 năm sau CLB giành được chức vô địch giải ngoại hạng (vô địch quốc gia) đầu tiên ngày 30-4-2005 trước ba vòng đấu, một sự khởi đầu đáng kinh ngạc của HLV Mourinho. Mùa giải tiếp theo Chelsea trở thành đội một trong hai đội duy nhất giữ lại được vương miện của giải ngoại hạng (vô địch liên tiếp 2 năm liền) khi đánh bại đối thủ nguy hiểm nhất là Manchester United ngày 19-4-2007, gần một năm sau thắng lợi đầu của đội.

Tháng 5-2006 để tăng cường cho đội hình đã rất mạnh của mình, HLV Mourinho ký một hợp đồng kỷ lục của Chelsea mua về cầu thủ tiền đạo của AC Milan là Andriy Shevchenko. Ngay đầu năm, vào tháng 1- 2007 bằng việc đánh bại Arsenal trên sân Millenium Stadion ở Cardiff các cầu thủ áo xanh (Chélea) đã giành được cho mình chiếc cúp Carling thứ hai trong 3 mùa bóng.

LỊCH SỬ CLB

Chelsea đã tạo được cho mình danh tiếng là một trong những CLB quyến rũ nhất và sân Stampford Bridge đã trở thành sân nhà của một trong những tên tuổi bóng đá vĩ đại nhất mọi thời đại.

Đội bóng áo xanh (Chelsea) thành lập năm 1905 với cam kết sẽ chơi một thứ bóng đá đẹp mắt hấp dẫn phù hợp với vùng bắc Loquanhddawcj sắc chung quanh, nhưng những chiếc cúp bạc thì vẫn tránh xa đội. Chiếc cúp vô địch mãi đến năm 1955 mới giành được là chiếc duy nhất của đội tính đến trước thời kỳ vàng son của những năm 1960, 1970. Những chiếc cúp Liên đoàn, cúp FA, cúp các đội đoạt cúp châu Âu đã đến liên tiếp trong một giai đoạn thành công, xảy ra cùng lúc với những thành tựu khác.

Sau thất bại trong trận chung kết cúp FA năm 1994 chỉ 3 năm sau vào 1998 đội đã giành được 3 chiến thắng khác gồm cúp Liên đoàn, cúp các đội đoạt cúp châu Âu (C2) và siêu cúp châu Âu. Cúp FA được giành lại vào năm 2000 và tiếp đó là danh hiệu vô địch giải ngoại hạng năm 2005. Điều đó có nghĩa là tên tuổi các cầu thủ áo xanh the Blues bây giờ đã được gắn với cả hai: Phong cách (style) và Thành tích (success)

MỘT SỐ KỶ LỤC CỦA CHELSEA

Kỷ lục số lần thi đấu trong mầu áo Chelsea (trong lịch sử CLB): Ron Harris, 795 lần.

Kỷ lục số lần thi đấu trong mầu áo Chelsea (hiện nay): Frank Lampard, 317 lần.

Kỷ lục số lần giữ cầu môn Chelsea: Peter Bometti (1959-1979), 729 lần.

Kỷ lục số lần thi đấu trong mầu áo Chelsea của cầu thủ nước ngoài: Marcel Desailly (Pháp), 116 lần.

Kỷ lục bàn thắng ghi cho Chelssea: Bobby Tambling (1959-1970), 202 bàn trong 370 trận.

Cầu thủ đang chơi choChelssea ghi được nhiều bàn thắng nhất: Frank Lampard, 89 bàn.

Trận đấu có số khán giả đông tới sân nhà đông nhất: Gặp Dynamo Moscow 13-11-1945 có 100.000 người (dự đoán) và trận gặp Arsenal ngày 12-10-1935 có 82.905 người (số liệu chính thức). Trước đây sân Stamford Bridge có nhiều chỗ đứng nhưng sau khi hiện đại hoá vào năm 1990, sân Stamford chỉ có toàn ghế ngồi với số lượng tối đa là 42,055 chỗ do đó các kỷ lục về số lượng khán giả trên đây sẽ không bao giờ bị phá vỡ.

Chelsea cũng giữ một số kỷ lục khác của bóng đá Anh và châu Âu như: Tổng số điểm cao nhất trong một mùa giải (95 điểm), số bàn thua ít nhất (15 bàn), số trận lưới sạch liên tiếp (10 trận), số trận thắng nhiều nhất trong một mùa giải ngoại hạng (29 trận), số trận lưới sạch trong một mùa giải ngoại hạng (25 trận). Tất cả các kỷ lục trên được lập trong mùa giải 2004/2005.

Chelsea giữ kỷ lục về giá chuyển nhượng của bóng đá Anh là 30 triệu Pounds (khoảng 60 triệu US Dollars) khi mua Andriy Shevchenko, nhưng giá này không được chính thức công bố.

Kỷ lục về bàn thắng nhanh nhất trong cúp FA là của Chelsea trong trận thắng Middlesbrough năm 1997 khi Roberto Di Matteo ghi bàn ở giây 42.

CLB cũng có một số cái nhất, đầu tiên khác của bóng đá Anh như: CLB đầu tiên có số trên áo 25-8-1925, đội bóng đầu tiên đi thi đấu trong nước bằng máy bay (19-5-1957), đội hạng nhất đầu tiên đá trong ngày chủ nhật (27-1-1974), đội bóng Anh đầu tiên ra sân trong giải ngoại hạng với đội hình xuất phát toàn cầu thủ nước ngoài (26-12-1999), ngày 19-5-2007 Chelsea trở thành đội đầu tiên giành được cúp FA trên sân Wembley mới và cũng là đội cuối cùng chiến thắng trên sân Wembley cũ.

THÀNH TÍCH:

Giải liên đoàn:

* Vô địch giải hạng nhất: 1 (1954-1955)
* Vô địch giải hạng hai: 2 (1983-1984, 1988-1989)
* Vô địch giải ngoại hạng: 2 (2004-2005, 2005-2006)

Cúp bóng đá Anh:

* Cúp FA: 4 lần (1970, 1997, 2000, 2007)
* Cúp liên đoàn: 4 lần (1965, 1998, 2005, 2007)
* Cúp FA Charity/Community: 3 lần (1955, 2000, 2005)
* Cúp Full Members: 2 lần (1986, 1990)

Cúp châu Âu:

* Cúp UEFA Cup Winner (C2): 2 lần (1971, 1998)
* Siêu cúp châu Âu: 1 lần (1998)



6. Everton


THÀNH TÍCH Ở GIẢI NGOẠI HẠNG.

Everton FC là một trong những CLB bóng đá lâu đời nhất và giầu thành tích nhất của bóng đá Anh với 9 lần vô địch quốc gia, 9 lần đoạt siêu cúp Anh, 5 lần đoạt cúp FA và 1 lần đoạt cúp châu Âu C2. Everton có sân nhà là SVĐ Gooodison Park ở thành phố Liverpool vùng Merseyside nước Anh cùng quê hương với CLB Liverpool nổi tiếng, cũng lâu đời và giầu thành tích không kém, vì vậy hai đội bóng luôn là đối thủ truyền kiếp của nhau. Ngày nay ở Merseyside người ta trông chờ rất nhiều vào việc HLV David Moyes có thể tiếp tục nâng cao vj trí của Everton ở giải ngoại hạng hay không. Moyes là một trong những huấn luyện viên trẻ nhất của các đội bóng hàng đầu đã tiếp nhận giây cương từ Walter Smith tháng ba năm 2002 và đã có một khởi đầu thành công trong toopd nhưng đội hàng đầu. Cựu HLV được đánh giá cao (và cũng là cựu cầu thủ trước đây) của CLB Preston lập tức có ảnh hưởng ở sân Goodison Park trong trận thứ hai của mình với Fulham khi hậu vệ David Unsworth bằng một cú sút đã giúp Everton chiến thắng the Cottagers (Fulham) 2-1. Suốt màu giải 2002/2003 họ trở thành một đội khó đánh bại trong nhóm những đội hàng đầu. Tuy nhiên mùa giải thứ hai của Moyes ở sân Goodison lại khó khăn hơn nhiều so với mùa đầu. Trung thành với nhưng ước mơ hằng ấp ủ, về ciệc CLB có thể có một chỗ ở đấu trường châu Âu, Everton đã mua về các cầu thủ như James McFadden, Kevin Kilbane...Đáng buồn là điều đó đã không đến khi trong mùa giải tranh đấu rất vất vả, cố gắng của các cầu thủ Everton chỉ vừa đủ để thoát khỏi việc xuống hạng. Các cầu thủ áo xanh (the Toffees) đã có một lịch sử vẻ vang và bây giờ họ là là đội bóng trụ lâu nhất ở nhóm đầu của bóng đá Anh. Họ cũng có thể tự hào về kỷ lục 5 cúp FA. Dưới sự dẫn dắt của Joe Royle chiến thắng của đội trước Manchester United trong trận chung kết năm 1995 trên sân Wembley đã loé sáng và giúp đội về thứ sáu trong mùa giải. Học viện Goodison Park đã phát hiện ra những viên ngọc quý của bóng đá Anh như Wayne Rooney, cầu thủ đã rời Merseyside đến với sân Old Trafford tháng 8-2004. Trong mùa giải 2004/2005 đội được xếp hạng tư là thứ hạng cao nhất đã đạt được ở giải ngoại hạng và giành được một suất thi đấu ở đấu trường châu Âu.Evarton vẫn là một trong số các CLB lớn nhất của bóng đá Anh và với người cầm lái Moyes họ đã nhận ra khả năng tiềm tàng của mình cũng như có thể tự hào về đội ngũ cổ động viên đông đảo của mình.

LỊCH SỬ CLB

Lịch sử lâu đời và đáng tự hào của Everton đảm bảo cho họ một vị trí xứng đáng trong tốp cao nhất của bóng đá Anh. Đội bóng Everton là thành viên sáng lập của Liên đoàn bóng đá Anh, được thành lập năm 1878 tức già hơn đối thủ vĩ đại cùng quê hương Liverpool tới 14 năm, giưc kỷ lục đáng ganh ty với tới 9 chức vô địch Vương quốc Anh. Cầu thủ huyền thoại Dixie Dean của sân Goodison Park đã giành được kỷ lục của mọi thời đại với 60 bàn thắng trong mùa giải 1927/1928 khi đội giành được chức vô địch giải hạng nhất (tức vô địch quốc gia vì khi đó chưa có giải ngoại hạng, giải hạng nhất là giải cao nhất). Everton giành được hai chức vô địch tiếp theo trong những năm 1930 trước khi thời gian bùng nổ những chiến thắng của các Toffees vào những năm 1960, 1970 với các cúp FA và 2 chức vô địch nữa. Những năm 1980 CLB lại tiếp tục có thêm 2 chức vô địch quốc gia, cúp châu Âu C2, và cúp FA qua đó Everton nổi lên như một trong những CLB đáng ngại nhất ở châu Âu. Thời kỳ khó khăn, tụt dốc đã ti vào những năm 1990 và sau đó nhưng CLB vẫn giữ được phong độ ngoại hạng của mình và các kỷ lục ấn tượng đối với mọi đội bóng về số lượng mùa giải được chơi trong giải đấu cao nhất của bóng đá Anh, mặc dù chuỗi thời gian kỷ lục này mới chỉ bắt đầu từ năm 1954. Chiến thắng rước Manchester United trong trận chung kết cúp FA năm 1995 cũng cho các cổ động viên trung thành một cơ hội ăn mừng chiến thắng tưng bừng.

THÀNH TÍCH

Vô địch quốc gia (9):
1890-91, 1914-15, 1927-28, 1931-32, 1938-39, 1962-63, 1969-70, 1984-85, 1986-87

Siêu cúp bóng đá Anh (9):
1928, 1932, 1963, 1970, 1984, 1985, 1986, 1987, 1995

Cúp F.A (5):

1906, 1933, 1966, 1984, 1995

Cúp châu Âu C2: 1985



7. Fulham


THÀNH TÍCH Ở GIẢI NGOẠI HẠNG

Fulham có thể vui mừng vì sự thăng tiến đáng kể lên thứ bậc hàng đầu của bóng đá Anh. Khi giải ngoại hạng Anh được khởi tranh năm 1992, Fulham lúc đó chỉ có mong ước đơn giản là không bị tụt xuống giải hạng ba. Ba năm sau đó CLB của các cầu thủ Cottager (nickname của Fulham) phải đối mặt với việc hoàn toàn biến mất khỏi bản đồ bóng đá.

May thay những ngày đó đã trở thành những kỷ niệm rất xa. Chủ tịch CLB Mohamed Al Fayed là một người thích khoa trương luôn mơ ước về một ngày Fulham chiến thắng ở giải ngoại hạng nên đã đầu tư nhiều tiền để theo đuổi mục tiêu này.
Sau khi đoạt danh hiệu ở giải hạng nhất năm 2001, đội bóng được tập hợp bằng một đống tiền của Fayed có thể tiếp cận nhóm những đội hay nhất của bóng đá Anh. Fulham khởi động mùa bóng mới bằng trận đấu với Manchester United và mặc dù thua với tỷ số 2-3 nhưng đội bóng đã chứng minh được là mình thuộc vào nhóm hàng đầu. Ba mùa tiếp theo đội củng cố và cải thiện vị trí của mình trong giải ngoại hạng và tham vọng của đội cũng lớn dần lên, mong vươn tới những vị trí cao hơn. Kết thúc mùa giải với vị trí ở nửa trên của giải ngoại hạng là dấu ấn của những ngày thành đạt này. CLB chia tay với HLV người Pháp Jean Tigana tháng 4-2003, ước mơ của Fayed về các danh hiệu cao được trao vào tay HLV Chris Coleman, người đã đưa Fulham về thứ 9 trong giải ngoại hàng mùa 2003/2004. Mùa sau 2004/2005 các cầu thủ Cottagers xếp thứ 13, tiếp đó đã thắng 13 trận trên sân nhà trên đường giành vị trí thứ 12 của giải ngoại hạng. Trong mùa giải 2006/2007 đội đã gặp khó khăn vì HLV Coleman ra đi khi đội còn 5 trận đấu của mùa giải và Lawrie Sanchez được bổ nhiệm là người dẫn dắt mới của đội bóng.

LỊCH SỬ CLB

CLB được một nhóm các tín đồ đi lễ nhà thờ thành lập năm 1879, nhưng cái tên Fulham đến năm 1888 mới được chấp nhận và CLB cũng có nhiều sân nhà trước khi định cư tại sân Craven Cottage từ 1896 đến ngày nay. Các cầu thủ Cottagers tham gia liên đoàn bóng đá từ năm 1907 nhưng họ đã phải chờ đợi hơn 40 năm mới tới ngày có được một chỗ trong nhóm hàng đầu của bóng đá, được thi đấu 3 mùa ở giải hạng nhất (khi đó chưa có giải ngoại hạng) trước khi bị rớt xuống giải hạng nhì. Giai đoạn thứ hai của họ còn thắng lợi hơn. Talisman Johnny Haynes, người đã đá 594 trận cho Fulham từ 1952 đến 1970 và 56 lần khoác áo đội tuyển Anh đã giúp CLB trụ vững ở tốp đầu của bóng đá trong những năm 1960. Các cầu thủ bóng đá huyền thoại như Bobby Moore, George Best và Rodney Marsh đã được CLB tuyển mộ trong khoảng giữa những năm 1970, mặc dù vậy kết hợp của những tài năng này cũng không thể đưa Fulham lên bậc cao nhất, nhưng Fulham nhanh chóng nổi tiếng vì lối chơi hào hoa hấp dẫn của mình.

Những năm 1980 và 1990 là giai đoạn thử thách và vị trí của Fulham trong liên đoàn bị đe doạ cho tới khi chủ tịch mới của CLB ông Mohamed Fayed tài trợ cho việc phục hồi đội bóng. Giấc mơ đã trở thành hiện thực vào năm 2001 khi bằng một cơn lốc chiến thắng Fulham đã giành chức vô địch giải hạng nhất và được thăng hạng lên giải ngoại hạng Anh.

THÀNH TÍCH CỦA CLB

Cúp West London: 1886, giải nhì năm 1893

West London Observer Cup: 1891, giải nhì năm 1893

London Senior Cup: Giải nhì năm 1896

Giải hạng nhì Miền Nam: Vô địch 1902, 1903, giải nhì năm 1900

Giải hạng nhất Miền Nam: Vô địch 1906, 1907 (được thăng lên giải Liên đoàn)

London Challenge Cup: Vô địch năm 1910

Giải liên đoàn 2: Vô địch năm 1932 (Khu vực)

Giải Liên đoàn 1: Vô địch năm 1949, 1999

Giải Liên đoàn: Vô địch năm 2001

Cúp Liên đoàn: Kết quả tốt nhất là tư skết các năm 1968, 2004

FA Cup: Vào chung kết năm 1975, bán kết các năm: 1908, 1936, 1958, 1962, 2002

Intertoto Cup: Vô địch năm 2002

UEFA Cup: Vòng 3 năm 2002

Giải ngoại hạng: Vị trí cao nhất: thứ 9, năm 2004



8. Hull City


Tên đầy đủ: Hull City Football Club
Thành lập: 1904
Biệt danh: The Tigers
Trang phục truyền thống: Áo sọc vàng-đen; quần đen; tất vàng.
SVĐ: KC (25.404 chỗ)
Chủ tịch: Paul Duffen
HLV trưởng: Phil Brown
Thành tích:
Vô địch giải hạng Ba: 1965/66


Chân sút vĩ đại nhất trong lịch sử: Chris Chilton (222 bàn)
Cầu thủ khoác áo CLB nhiều nhất: Andy Davidson (520 trận)
Những cầu thủ nổi tiếng từng khoác áo CLB: Steve McClaren, Brian Marwood

Vị trí mùa 08/09: 17
Chuyển nhượng
Đi: San Ricketts (Bolton), Dean Windass (Darlington FC)
Đến: Steven Mouyokolo (Boulogne).

Ngôi sao: Geovanni (29 tuổi)
Tiền vệ từng khoác áo Barcelona và Man City hiện là ngôi sao lớn nhất và cũng là niềm kỳ vọng của Hull City. Năm ngoái, với 8 bàn thắng, chủ yếu đến từ những cú sút phạt trực tiếp, hoặc những cú nã đại bác từ xa, Geovanni chính là động lực giúp tân binh của Premiership mùa 08/09 trụ hạng thành công. Mùa 09/10, Hull City không có nhiều tiền để bổ sung lực lượng. Đó là lý do Geovanni lại được trao gửi niềm tin. Ngoài khả năng sút xa cực tốt, Geovanni còn là cầu thủ có kỹ thuật, kỹ năng xử lý bóng, chuyền bóng tốt nhất bên phía Hull City.

Đội hình tối ưu: Myhill; Gardner, Mouyokolo, Doyle, A.Dawson; Ashbee, Geovanni, Barmby, Kilbane; Fagan, Folan


9. Liverpool


Thành tích ở giải ngoại hạng.

Với kỷ lục 18 lần vô địch giải liên đoàn bóng đá Anh và 5 lần giành cúp châu Âu, Liverpool là một trong những đội giầu thành tích nhất của bóng đá Anh và luôn là một đối thủ cạnh tranh giành các danh hiệu bóng đá. Các cầu thủ áo đỏ đã làm lỡ cơ hội giành chức vô địch giải ngoại hạng năm 1992, chỉ vài tuần sau khi ăn mừng chiến thắng cúp FA bằng chiến thắng cuối cùng trước Sunderland, dưới sự dẫn dắt của Graeme Souness. Souness đã không thể tập trung duy trì sự cạnh tranh lâu dài và Roy Evans, người đã gắn bó thời gian dài với Anfield đã khởi đầu một làn sóng mới các tài năng khi nhậm chức năm 1994. Robbie Fowler nhận trách nhiệm ghi bàn thay cho Ian Rush huyền thoại và đến lượt Michael Owen trở thành tiêu điểm của cả CLB lẫn đội tuyển. Với nhiều tài năng trong tay Evans đã làm sống lại đội bóng áo đỏ và đã 4 lần nằm trong nhóm 4 đội hàng đầu giải ngoại hạng. HLV người Pháp Gerard Houllier nhận chức từ tháng 7-1998 ban đầu bên cạnh Evans và thêm vào đó là ngôi sao bóng đá mẫu mực Anh Steven Gerrard tạo thành một phong cách không thể hoài nghi được của đội bóng Liverpool. Trong năm 2001 đáng ngạc nhiên đội bóng của Houllier mang về 5 giải gồm cả cúp FA, UEFA. Năm 2002 cũng kết thúc hiệu quả khi đội kết thúc mùa thi đấu ở vị trí thứ hai, vị trí tốt nhất của đội trong giải ngoại hạng. Việc tuyển mộ cầu thủ Úc Harry Kewell và ngôi sao người Ireland Steve Finnan tiếp tục củng cố một trong những đội hình mạnh nhất trong giải đấu cao nhất. Liverpool kết thúc mùa đấu 2003-2004 ở vị trí thứ 4 và Houllier ra đi ngay sau đó nhường chỗ cho cựu HLV Valencia Rafael Benitez. Người Tây Ban Nha này đã giúp Liverpool giành được cúp bạc Champion League ngay trong mùa đầu tiên 2004/2005 sau chiến thắng kỳ diệu trước AC Milan. Mùa giải 2005/2006 đội bóng áo đỏ còn trình diễn thuyết phục hơn, đứng thứ ba và sở hữu thêm cúp FA thứ bẩy nhờ chiến thắng Westham United bằng đá 11 M.

LỊCH SỬ CLB

CLB được thành lập năm 1892 sau tranh chấp giữa CLB Everton FC và chủ sân Anfield – John Houlding, người đã thành lập Liverpool khi Everton chuyển đi Goodison Park. Đội bóng áo đỏ nhanh chóng khẳng định là 1 trong những đội hàng đầu của Anh với 5 danh hiệu giành được từ 1900 đến 1947 trước khị bị tụt hạng xuống giải hạng 2 vào năm 1954. Nhưng triều đại của Bill Shankly và Bob Paisley từ 1959 đến 1983 cho thấy sức mạnh đã đổ về sân Anfield như thế nào. Sau khi được thăng hạng lên chơi ở giải ngoại hạng năm 1961, CLB dành hết danh hiệu này đến danh hiệu khác, gồm cả 4 chiến thắng ở các cúp châu Âu. 18 chiến thắng ở giải hạng nhất là kỷ lục đáng tự hào của Quận Merseyside (nơi có thành phố Liverpool). Tuy nhiên đội bóng và thành phố đã bị cuốn vào hai thảm hoạ: Heysel trong năm 1985 và Hillsborough năm 1989. Năm 1990 là giai đoạn chuyển tiếp của CLB với cúp FA và cúp Liên đoàn được bổ xung vào bảng thành tích. Ban lãnh đạo mới do HLV người Pháp Gerard Houllier dẫn dắt đã lập lại những ngày vinh quang. Chỉ riêng trong năm 2001 Houllier đã gom một cách đáng kinh ngạc 5 danh hiệu, tuy nhiên chức vô địch giải ngoại hạng khao khát từ lâu thì vẫn chưa có được. Sau khi Houllier ra đi năm 2004, Rafael Benitez được chỉ định là người sẽ tìm kiếm giải thưởng cao nhất và Benitez đã lập tức ghi tên mình vào cuốn lịch sử của Anfield bằng chiến thắng giải Champion League châu Âu (Cúp UEFA hoặc C1) mùa 2004/2005, chiến thắng lớn nhất của Liverpool ở đấu trường châu Âu. Đầu năm 2007 chủ CLB đã chuyển cặp cầu thủ người Mỹ George Gillett và Tom Hicks để đảm bảo việc điều hành hoàn hảo hơn.

Thành tích của CLB

Giải vô địch quốc gia: 18
1900-01, 1905-06, 1921-22, 1922-23, 1946-47, 1963-64, 1965-66, 1972-73, 1975-76, 1976-77, 1978-79, 1979-80, 1981-82, 1982-83, 1983-84, 1985-86, 1987-88, 1989-90

Siêu cúp bóng đá Anh: 15

1964, 1965, 1966, 1974, 1976, 1977, 1979, 1980, 1982, 1986, 1988, 1989, 1990, 2001, 2006

Cúp F.A: 7
1965, 1974, 1986, 1989, 1992, 2001, 2006

Cúp Liên đoàn BĐ Anh: 7
1981, 1982, 1983, 1984, 1995, 2001, 2003

Cúp C1: 5

1977, 1978, 1981, 1984, 2005

Cúp UEFA (Cúp C3): 3

1973, 1976, 2001

Siêu cúp bóng đá châu Âu: 3

1977, 2001, 2005



10. Manchester City


Thành tích ở giải ngoại hạng

Manchester City (MC) đã giành được một chỗ ở giải ngoại hạng kể từ khi lấy lại được vị thế hàng đầu của mình năm 2002. Là một trong những người thành lập giải ngoại hạng, MC đã hai lần bị loại ra khỏi tốp cao nhất nhưng đã lại giành được vị trí của mình nhờ cuộc tiến mãnh liệt vào giải hạng nhất trong mùa giải 2001/2002 đầy thú vị. Nhà lãnh đạo uy tín trước đây Kevin Keegan đã tạo ra một đội hình theo lối tấn công đặc trưng của ông, có thể ganh đua với những đội mạnh nhất trong liên đoàn. Keegan đã tiếp nhận đội bóng từ Joe Royle tháng 5/2001 đến tháng 3/2005 mới bàn giao cho Stuart Pearce và đã rất nổi tiếng nhờ mang tới một thương hiệu hiện đại của bóng đá và City đã có được 108 bàn thắng nổi bật khi giành chức vô địch với 10 điểm cách biệt. Pearce có thể là đã tiếp cận những phương thức cứng rắn hơn người tiền nhiệm nhưng ông ta thực sự có tài tạo cho City sức mạnh trong nhóm cao nhất. City luôn nhậy bén khi tuyển chọn những cầu thủ tốt nhất từ Trường huấn luyện rất uy tín của họ trong khi trung vệ hay gây gổ Joey Barton có Dietmar Hamann đầy kinh nghiệm bên cạnh. Chuyển đến sân vận động hiện đại Thành phố Manchester chứa được 48.000 chỗ ngồi, tương lai của đội bóng áo xanh rất sáng sủa với một đội ngũ người ủng hộ đông đảo và trung thành.

LỊCH SỬ CLB

Được thành lập năm 1880, Manchester City (MC) đã dùng nhiều tên trước khi chọn cái hiện tại vào năm 1894. Sau 30 năm lên hạng, tụt hạng, rồi thì MC cũng đạt được sự thịnh vượng vào giữa những năm 30 và giành cúp FA vào năm 1934 và chức vô địch hạng nhất năm 1937, và chỉ bị tụt hạng 12 tháng sau đó. Cúp FA thứ ba đến vào năm 1956 và một thập niên sau đó Joe Mercer đã mang lại kỷ nguyên vàng trong lịch sử CLB. MC giành chức vô địch hạng nhất năm 1968, giành cúp FA năm 1969 và vô địch các đội đoạt cúp châu Âu năm 1970. Nhưng từ năm 1983 đến 2002, CLB thay đổi hạng tới 10 lần và vị trí ở giải ngoại hạng ban đầu có vẻ như là khó giữ được. Nhưng dưới sự dẫn dắt của Kevin Keegan MC đã tiến như vũ bão vào giải hạng nhất và việc di chuyển từ Maine Road đến sân vận động Thành phố Manchester báo hiệu những tham vọng to lớn của CLB.

THÀNH TÍCH CỦA CLB

1936-37, 1967-68 Vô địch Cúp CHARITY/COMMUNITY SHIELD
1937, 1968, 1972 Vô địch Cúp F.A. CUP
1904, 1934, 1956, 1969 Vô địch Cúp LEAGUE CUP
1970, 1976
2008 Tứ Kết UEFA Cup


11. Manchester United


Manchester United Football Club

Là một câu lạc bộ bóng đá Anh, trụ sở tại sân vận động Old Trafford tại Trafford, Greater Manchester. Đây là một trong những câu lạc bộ thành công nhất tại nước Anh, đã từng vô địch bóng đá Anh 16 lần, đoạt và UEFA Champions League 2 lần nên được biết đến như là một trong những tên lớn nhất trong thể thao. Manchester United có lượng khán giải đến sân trung bình cao nhất nước Anh trong 50 năm qua, và theo đó được xem là câu lạc bộ lớn nhất nước Anh.

Câu lạc bộ được hình thành với cái tên ban đầu là Newton Heath (L & Y.R.) F.C vào năm 1878 và là một đội làm việc thuộc ga xe lửa Lancashire and Yorkshire Railway tại Newton Heath. Sau khi suýt phá sản vào năm 1902, câu lạc bộ được tiếp quản bởi J.H. Davies - người đã đổi tên nó thành Manchester United (MU) như ngày nay. United chọn Sir Matt Busby làm huấn luyện viên sau thế chiến thứ hai, và chính sách chưa bao giờ được nghe đến lúc bấy giờ của ông trong việc lấy phần lớn cầu thủ từ đội trẻ đã mang lại thành công, với việc đội bóng đoạt giải vô địch quốc gia vào năm 1956 và 1957. Thành công ấy bị tạm dừng bởi thảm họa máy bay tại München vào năm 1958, trong đó tám cầu thủ của đội đã thiệt mạng. Nhiều người đã nghĩ đội bóng có lẽ đã gục ngã, nhưng một lần nữa Busby sau khi bình phục đã xây dựng một đội hình mạnh khác mà sau đó đã đoạt giải vô địch quốc gia các năm và 1967, và trở thành đội bóng Anh đầu tiên vô địch Cúp C1 châu Âu năm 1968.

Manchester United không có được những thành công lớn như vậy cho đến thập kỉ 1990 và những năm đầu 2000, khi Sir Alex Ferguson dẫn dắt đội đoạt 8 chức vô địch giải ngoại hạng trong 11 mùa giải. Vào năm Manchester United trở thành đội bóng đầu tiên đoạt ba chức vô địch trong một mùa giải - ngoại hạng Anh, UEFA Champions League - một kỉ lục đến giờ vẫn chưa bị phá vỡ. Câu lạc bộ được vận hành dưới dạng công ty hữu hạn cổ phần từ và khả năng bị giành quyền kiểm soát là rất cao. Sự cố gắng tiếp quản câu lạc bộ của Rupert Murdoch đã bị ngăn chặn bởi chính phủ Anh vào năm 1999, nhưng vào năm 2005 Malcolm Glazer hoàn thành một cuộc tiếp quản không thân thiện, bất chấp sự ngăn cản đáng kể từ nhiều cổ động viên của United.

Lịch sử câu lạc bộ

Thời kỳ đầu (1878-1945)

Câu lạc bộ được hình thành với cái tên Newton Heath (Lancashire & Yorkshire Railway), Newton Heath (L&YR) là tên viết ngắn, bởi một nhóm công nhân đường sắt Manchester vào năm 1878. Tên gọi câu lạc bộ nhanh chóng được rút ngắn lại thành Newton Heath. Họ là thành viên sáng lập của Liên minh bóng đá (Football Alliance) vào năm 1889 và gia nhập giải vô địch quốc gia vào năm khi nó được sát nhập với Liên minh bóng đá.

Đoạn phim được biết đến sớm nhất của Manchester United là trận thắng 2–0 tại Burnley vào ngày 6 tháng 12 năm 1902, quay bởi Mitchell and Kenyon.

Câu lạc bộ đối mặt với phá sản vào năm 1902 và được cứu nguy bởi J.H. Davies, người đã trả hết nợ cho câu lạc bộ, đổi tên thành Manchester United và đổi màu áo câu lạc bộ từ vàng và xanh sang màu đỏ và trắng. Họ trở thành vô địch giải đấu vào năm 1908 và, với sự hỗ trợ tài chính từ Davies, chuyển từ Bank Road đến sân vận động mới tại Old Trafford vào năm 1910.

Thời kỳ giữa thế chiến thứ nhất và thứ hai, đội bóng đã phải vật lộn với những khó khăn về tài chính và cho đến khi Thế chiến thứ hai kết thúc họ đã nợ £70,000.

Những năm của Busby (1945-1969)

Matt Busby được chọn làm huấn luyện viên vào năm 1945 và chọn đường lối dẫn dắt không được biết đến lúc bấy giờ, tham gia cùng với các cầu thủ để luyện tập cũng như làm các nhiệm vụ quản lí. Ông ngay lập tức thành công, với việc câu lạc bộ kết thúc mùa giải ở vị trí thứ hai năm 1947 và đoạt Cup năm 1948.

Ông đã thực hiện chính sách đưa cầu thủ từ đội hình trẻ lên đội hình chính nếu anh ta có khả năng, và đội bóng trở thành vô địch giải năm < 1956 khi độ tuổi trung bình cả đội chỉ là 22. Mùa giải tiếp theo, họ đoạt vô địch giải quốc gia lần nữa và đi đến trận chung kết FA Cup, thua Aston Villa. Họ cũng là đội bóng Anh đầu tiên thi đấu ở Cúp châu Âu và đã đi tới trận bán kết.

Bi kịch bất ngờ xảy ra ở mùa giải năm sau, khi chiếc máy bay chở đội bóng về sau một trận đấu tại Cúp Châu Âu đã bị rơi lúc hạ cánh xuống tiếp nhiên liệu tại München. Thảm họa máy bay München xảy ra vào ngày 6 tháng 2 năm 1958 này đã cướp đi sinh mạng của 8 cầu thủ và 15 hành khách khác. Đã có những lời bàn tán về việc câu lạc bộ sẽ tan rã nhưng Jimmy Murphy đã tiếp nhận vai trò huấn luyện viên khi Matt Busby đang chữa trị vết thương. Câu lạc bộ tiếp tục thi đấu với đội hình còn lại. Họ vào tới trận chung kết FA Cup lần nữa, nhưng đã để thua trước Bolton.

Busby xây dựng lại đội hình trong những năm đầu của thập kỉ 1960, mua về các cầu thủ như Denis Law và Pat Crerand. Đội bóng đoạt vô địch FA Cup năm 1963, sau đó chiếm vô địch giải quốc gia các năm 1965 và 1967, sau đó còn đoạt Cúp Châu Âu vào năm 1968, và là đội bóng Anh đầu tiên đạt được thành tích ấy. Đội bóng trở nên nổi tiếng vì có ba cầu thủ đã đạt danh hiệu Cầu thủ xuất sắc nhất Châu Âu: Bobby Charlton, Denis Law và George Best. Busby từ chức vào năm 1969 và được thay thế bằng huấn luyện viên đội hình phụ Wilf McGuinness.

Giai đoạn 1969-1986

United vật lộn sau khi thay thế Busby bằng Wilf McGuinness và Frank O*Farrell trước khi Tommy Docherty trở thành huấn luyện viên vào cuối năm 1972. Docherty, hay "the Doc", cứu United khỏi việc xuống hạng mùa giải này nhưng cuối cùng United vẫn bị xuống hạng vào năm 1974. Tuy nhiên đội bóng đã vùng lên, thăng hạng ngay lập tức sau một mùa giải và vào đến tận trận chung kết FA Cup năm 1976, nhưng đã bị Southampton đánh bại. Họ vào đến trận chung kết FA Cup lần nữa vào năm 1977, đánh bại Liverpool F.C. và ngăn chặn đối thủ này giành được cú ăn ba đầu tiên trong lịch sử mà sau đó United giành được vào năm <1999. Mặc dù có được thành công như vậy và sự gần gũi với cổ động viên, Docherty bị sa thải không lâu sau trận chung kết vì mối quan hệ của ông với vợ một nhà vật lí trị liệu bị phát hiện.

Dave Sexton thay thế Docherty làm huấn luyện viên vào mùa hè năm 1977 và thực hiện lối chơi phòng thủ hơn. Phong cách này không được sự đồng tình từ phía người hâm mộ, họ vốn quen với lối bóng đá tấn công mà Docherty và Busby đã sử dụng, và sau khi không giành được một chiếc cúp nào Sexton đã bị sa thải vào năm 1981.

Ông được thay thế bởi Ron Atkinson người mà ngay lập tức đã phá vỡ kỉ lục giá chuyển nhượng ở nước Anh khi mua về Bryan Robson từ West Brom. Đội hình của Atkinson nổi bật với những hợp đồng mới như Jesper Olsen, Gordon Strachan bên cạnh những cầu thủ trưởng thành từ đội trẻ Norman Whiteside và Mark Hughes. United đoạt vô địch FA Cup vào các năm 1983, 1985 và tràn ngập khát vọng vô địch giải quốc gia vào mùa giải 1985-86 sau khi đã giành chiến thắng trong 10 trận đầu tiên và nhanh chóng dẫn trước đối thủ 10 điểm vào tháng 10. Đội hình sụp đổ sau đó và United kết thúc mùa giải ở vị trí thứ tư. Lối chơi đơn điệu tiếp tục ở mùa giải sau, và khi United đứng trước nguy cơ bị xuống hạng lần nữa, Atkinson bị sa thải ngày 5 tháng 11 năm 1986 với số tiền bồi thường 100.000 bảng.

Kỷ nguyên của Alex Ferguson (1986-1999)

Alex Ferguson thay thế Atkinson dẫn dắt đội và kết thúc mùa giải ở vị trí 11. Mùa giải tiếp theo (1987-88), United kết thúc ở vị trí thứ hai, với việc Brian McClair trở thành cầu thủ United đầu tiên sau George Best ghi được 20 bàn trong một mùa.

Tuy nhiên, United đi xuống vào năm 1989, với nhiều bản hợp đồng của Ferguson không được như sự trông đợi của người hâm mộ. Đã có sự suy đoán rằng Ferguson sẽ bị sa thải vào đầu năm 1990 nhưng chiến thắng tại vòng ba của FA Cup trước Nottingham Forest F.C. đã cứu vãn cả mùa giải và United đoạt vô địch FA Cup mùa này.

United giành chiến thắng tại Cúp các nhà vô địch Cúp quốc gia Châu Âu (European Cup Winners* Cup) vào mùa 1990-91, đánh bại nhà vô địch Tây Ban Nha Barcelona ở trận chung kết, nhưng ở mùa giải tiếp theo Manchester United để tuột chức vô địch giải quốc gia về tay địch thủ Leeds United. Trong lúc ấy vào năm 1991 câu lạc bộ được tung ra thị trường chứng khoán London với giá 18 triệu bảng Anh, do đó mang vấn đề tài chính của United ra trước công chúng, điều mà trước đó chưa từng xảy ra.

Vụ chuyển nhượng Eric Cantona vào tháng 11 năm 1992 mang đến cho United sức mạnh lớn, và họ kết thúc mùa giải 1992-93 với chức vô địch lần đầu sau năm 1967. Họ giành cú đúp (vô địch giải Ngoại hạng và FA Cup) lần đầu tiên vào mùa giải tiếp theo, nhưng huấn luyện viên huyền thoại đồng thời là chủ tịch câu lạc bộ Matt Busby mất vào ngày 20 tháng 1 năm 1994.

Ở mùa giải 1994-95, Cantona nhận án treo giò 8 tháng vì nhảy vào khán đài và tấn công một cổ động viên của Crystal Palace F.C.. Thua hai trận cuối cùng khiến cho United thành kẻ về nhì cả ở giải Ngoại hạng và FA Cup. Ferguson sau đó đã xúc phạm cổ động viên bằng cách bán đi các cầu thủ chủ chốt và thay họ bằng các cầu thủ từ đội hình trẻ. Tuy vậy các cầu thủ trẻ, một vài trong số họ sau này nhanh chóng trở thành những cầu thủ nổi tiếng thế giới, đã thi đấu tốt một cách đáng ngạc nhiên và United giành cú đúp lần nữa ở mùa giải 1995-96.

Họ đoạt vô địch giải Ngoại hạng năm 1997, và Eric Cantona chia tay với sự nghiệp bóng đá ở tuổi 30, sớm hơn một vài năm so với phần lớn các cầu thủ khác. United khởi đầu mùa giải tiếp theo một cách suông sẻ nhưng cuối cùng một loạt những chấn thương khiến họ về nhì cả giải Ngoại hạng Anh và FA Cup sau Arsenal F.C..

1998-99 là mùa giải thành công nhất trong lịch sử câu lạc bộ, Manchester United trở thành đội bóng Anh đầu tiên đạt được cú ăn ba - vô địch cả giải Ngoại hạng Anh, FA Cup và Champions League trong một mùa giải. Trận chung kết Champions League hết sức thú vị khi United bị dẫn 1-0 khi trận đấu chỉ còn 1 phút, tuy nhiên hai bàn thắng ghi được ở phút bù giờ đã giúp họ giành được chiến thắng từ tay Bayern München. Hai tiền vệ trung tâm chủ chốt của United, Roy Keane và Paul Scholes, không được dự trận đấu này vì bị treo giò. Sau đó Ferguson được phong tước hiệp sĩ vì những đóng góp cho bóng đá Anh.

Sau cú ăn ba (1999 - 2006)

MU đoạt vô địch giải Ngoại hạng các năm 2000 và 2001 nhưng báo giới cho rằng những mùa giải này là thất bại vì đã thi đấu không thành công tại Champions League. Ferguson sử dụng lối chơi thiên về phòng thủ nhiều hơn khiến United khó bị đánh bại tại châu Âu nhưng điều đó đã không thành công, United kết thúc mùa giải 2002 ở vị trí thứ 3. Họ giành lại chức vô địch ở mùa giải 2002-03, nhưng phong độ đi xuống khi Rio Ferdinand nhận án treo giò 8 tháng vì bỏ lỡ một buổi kiểm tra doping. Họ chỉ vô địch F.A. Cup năm 2004, tuy nhiên đã loại Arsenal F.C. (vô địch giải Ngoại hạng Anh mùa này) trên đường đến trận chung kết.

Mùa giải 2004-05 United tiếp tục thi đấu không thành công vì khả năng ghi bàn kém cỏi, và United kết thúc mùa giải chỉ với một phần thưởng an ủi Carling cup và chỉ về thứ 3 ở giải Ngoại hạng. Lúc này mặc dù chơi hay hơn Arsenal trong trận chung kết nhưng United bị thua sau loạt penalty. Cuối mùa giải đó Malcolm Glazer mua lại câu lạc bộ và biến nó thành tài sản riêng của mình.

United mở đầu mùa giải 2005-06 không suôn sẻ, với việc đội trưởng Roy Keane rời câu lạc bộ sau khi chỉ trích công khai đồng đội, và sau khi thi đấu tệ hại ở vòng bảng, lần đầu tiên sau hơn 10 năm họ không được dự vòng đấu loại trực tiếp UEFA Champion*s League.

Vụ tiếp quản của Malcolm Glazer

Vào ngày 12 tháng 5 năm 2005, Malcolm Glazer - một doanh nhân Mỹ - đưa ra lời đề nghị mua lại câu lạc bộ với giá khoảng 800 triệu bảng Anh (1.47 tỉ dollar Mỹ). Vào ngày 16 tháng 5, ông tăng lượng cổ phần của mình tại United lên 75% - một tỉ lệ đủ để đưa câu lạc bộ ra khỏi thị trường chứng khoán và trở thành tài sản cá nhân, đồng thời thông báo rằng điều đó sẽ được thực hiện trong vòng 20 ngày. Vào ngày 7 tháng 7, Glazer chỉ định các con trai là Joel, Avram và Bryan làm giám đốc, cùng lúc đó Sir Roy Gardner từ chức chủ tịch cùng với hai giám đốc khác.

Một vài người hâm mộ United bày tỏ sự lo lắng khi câu lạc bộ rơi vào tay Glazer đã để lại cho United khoản nợ 265 triệu bảng, họ lo rằng Manchester United sẽ không có tiền để cạnh tranh trên thị trường chuyển nhượng với Liverpool, Real Madrid hay Chelsea. Glazer khẳng định rằng Sir Alex vẫn có thể liên hệ mua các tên tuổi lớn; tuy nhiên các bản hợp đồng của Ferguson từ sau tiếp quản trở nên dè dặt không bình thường.

Mùa giải 2006-2007

Hiện nay, Một kỉ nguyên mới đang hình thành trên sân Old Trafford. Ngày 6/11/2006 vừa qua, Sir Alex Ferguson đã kỉ niệm trong thể 20 năm dẫn dắt đội bóng Quỷ Đỏ. Mùa giải 06/07 bắt đầu một cách tuyệt vời và cho đến nay, MU đã có được danh hiệu vô địch mùa Đông sau khi thua 2 trận, hoà 2 trận và thắng 14 trận, ghi được tổng cộng 41 bàn thắng (12 cái tên trong danh sách ghi bàn trong đó có 3 cầu thủ ghi 8 bàn là Saha - Ronaldo - Rooney.) và để lọt lưới vẻn vẹn 9 bàn. Đây là con số khả quan nhất của MU trong một vài mùa giải gần đây.

MU đã vô địch giải Ngoại hạng trước 2 vòng đấu sau khi thắng Man xanh 1-0, trong khi Arsenal cầm hòa Chelsea 1-1 tại Emirates.

Cổ động viên (fans) của MU

Trước Thế chiến thứ hai, rất ít cổ động viên Anh đi theo cổ vũ cho đội bóng trong từng trận đấu bởi vấn đề thời gian và chi phí. Khi United và Manchester City chơi trên sân nhà vào những chiều thứ bảy, nhiều người sống ở Manchester đến sân xem United một tuần và City tuần sau. Sau chiến tranh, sự kình địch giữa hai đội bóng mạnh hơn và cổ động viên chỉ chọn một đội duy nhất để xem.

Khi United đoạt vô địch giải quốc gia năm 1956 họ có số khán giả đến sân nhà trung bình cao nhất giải, một kỉ lục đã được giữ bởi Newcastle F.C. trong một vài mùa trước. Sau thảm họa máy bay München năm 1958, nhiều người ở ngoài thành phố Manchester bắt đầu cổ động cho United và việc đi lại nhanh hơn và rẻ hơn khiến cho nhiều người bắt đầu theo đội bóng đến các trận đấu. Điều đó làm tăng sự cổ động cho United và là một lí do giúp cho United có lượng khán giả đến sân cao nhất giải trong phần lớn các mùa tiếp theo, ngay cả khi họ thi đấu ở giải hạng hai mùa giải 1974-75.

Mặc dù người ta thường thấy có ít người Manchester cổ động cho United (điều tương tự với Juventus và Bayern München), tờ Manchester Evening News đã một vài lần thực hiện một cuộc khảo sát người Manchester về đội bóng mà họ cổ vũ, kết quả United đều xếp đầu và có lần đã đạt tỉ lệ 66%. Một báo cáo vào năm 2002, Do You Come From Manchester?, chỉ ra United có số người đặt mua vé của mùa giải có mã vùng Manchester cao hơn Manchester City F.C., mặc dù tỉ lệ vé bán của City cho người dân Manchester trong tổng số vé cả mùa họ bán ra cao hơn. Manchester United ước lượng họ có 75 triệu người hâm mộ trên toàn thế giới, trong đó có 40 triệu người ở châu Á.

Cuối những năm 1990, đầu 2000, sự lo ngại của nhiều cổ động viên United trước khả năng đội bóng có thể bị mua lại tăng dần. Nhóm cổ động viên IMUSA (Independent Manchester United Supporters* Association - Hội cổ động viên Manchester United độc lập) đã hoạt động rất mạnh mẽ để ngăn cản kế hoạch mua lại câu lạc của Rupert Murdoch vào năm 1999. Một nhóm gây áp lực khác, Shareholders United Against Murdoch (bây giờ là Shareholders United) được thành lập trong khoảng thời gian này để kêu gọi cổ động viên mua lại cổ phiếu của câu lạc bộ, chừng mực nào đó đã làm tăng tiếng nói của cổ động viên trong vấn đề gây lo ngại cho họ, như giá vé và sự phân phối, và làm giảm nguy cơ các cá nhân hay tổ chức mà họ không mong muốn mua đủ cổ phiếu đề giành quyền kiểm soát đội bóng. Tuy nhiên, cách làm này thất bại khi ngăn cản Malcolm Glazer trở thành cổ đông lớn nhất của đội bóng. Nhiều cổ động viên giận dữ, và một vài trong số đó đã thành lập một câu lạc bộ mới với tên F.C. United of Manchester. Câu lạc bộ mới này thi đấu ở giải Hạt Tây Bắc (North West Counties League) hạng hai, và thu hút lượng khán giả mỗi trận khoảng trên 2500 người.

Tuy vậy vẫn chưa thấy phản ứng rõ ràng từ phía cổ động viên sau vụ tiếp quản của Glazer, câu lạc bộ lập kỉ lục về doanh số vé bán cả mùa, việc để nhiều ghế trống trên sân và sự thiếu tự do thông tin từ câu lạc bộ vẫn chưa được thực hiện.

Thành tích

Giải vô địch quốc gia: 18

1908, 1911, 1952, 1956, 1957, 1965, 1967, 1993, 1994, 1996, 1997, 1999, 2000, 2001, 2003, 2006, 2007, 2008.

Giải hạng nhất: 2

1936, 1975

Cúp FA: 11

1909, 1948, 1963, 1977, 1983, 1985, 1990, 1994, 1996, 1999, 2004

Cúp Liên đoàn bóng đá Anh: 2

1992, 2006

Siêu cúp bóng đá Anh: 15

1908, 1911, 1952, 1956, 1957, 1965*, 1967*, 1977*, 1983, 1990*, 1993, 1994, 1996, 1997, 2003

(* đồng đoạt cúp)

Cúp C1: 2

1967-68, 4-1 (thắng SL Benfica)

1998-99, 2-1 (thắng FC Bayern München)

Cúp C2: 1

1991

Cúp Liên lục địa: 1

1999

Siêu cúp bóng đá châu Âu: 1

1991

Đội thể thao xuất sắc nhất trong năm của BBC Sports: 2

1968 & 1999



12. Birmingham City




13 Burnley


Tên đầy đủ: Burnley FC
Thành lập: 1882
Biệt danh: The Clarets
Trang phục truyền thống: Áo đỏ tím, tay xanh; quần trắng; tất đỏ tím.
SVĐ: Turf Moor (22.546 chỗ)
Chủ tịch: Barry Kilby
HLV trưởng: Owen Coyle
Thành tích:
Vô địch giải hạng Nhất: 1920/21, 1959/60.
Vô địch giải hạng Hai: 1897/98, 1972/73.
Vào tứ kết Cúp C1: 1961
Vô địch FA Cup: 1913/14.
Vô địch Community Shield: 1973.



Chân sút vĩ đại nhất trong lịch sử: George Beel (178 bàn)
Cầu thủ khoác áo CLB nhiều nhất: Jerry Dawson (522 trận)
Những cầu thủ nổi tiếng từng khoác áo CLB: Paul Gascoigne, Andrew Cole, Ian Wright.
Vị trí mùa 08/09: thứ Năm Championship
Chưyển nhượng
Đi: Steve Jones, Alan Mahon, Gabor Kiraly, Alex MacDonald (hết hợp đồng).
Đến: Tyrone Mears (Derby), Steven Fletcher (Hibernian), David Edgar (Newcastle), Brian Easton (Hamilton), Richard Eckersley (Man Utd).

Ngôi sao: Robert James Blake (33 tuổi)
Không còn ở độ tuổi trẻ khoẻ nữa, thế nhưng, tiền đạo trưởng thành từ lò đào tạo của Darlington luôn háo hức ra sân. Anh luôn thể hiện sự sung sức và là một cầu thủ không thể thiếu của Burnley nhờ khả năng ghi bàn ấn tượng (dẫn đầu danh sách ghi bàn với 58 bàn thắng), cùng số lần ra sân nhiều nhất (214 trận). Với HLV Owen Coyle, Blacke là đầu tầu dẫn dắt đội bóng của ông đến với thành công.

Đội hình tối ưu: Jensen; Eckersley, Caldwell, Edgar, Kalvenes; Eagles, Alexander, McCann, Elliott; Blake, Rodriguez



14. Portsmouth


THÀNH TÍCH Ở GIẢI NGOẠI HẠNG

Bằng cách nào đó Portmouth đã đạt được mục tiêu của mình là được chơi ở giải ngoại hạng trong mùa giải 2002/2003. CLB đã giàng chức vô địch giải hạng nhất và trở thành CLB thành viên thứ 37 của gải ngoại hạng sau một mùa đấu mà họ áp đảo từ đầu đến cuối, kết thúc với 98 điểm và 97 bàn thắng. Thị trường chuyển nhượng luôn là thế mạnh của GĐ điều hành Harry Redknapp và ông ta đã tận dụng quan hệ rộng rãi của mình để ký được một vài hợp đồng quan trọng, kể cả với thủ môn độc đáo Shaka Hislop từ Westham United hay tiền đạo người Bungary Svetoslap Todorop. Kết hợp các ngôi sao sáng với các cầu thủ trẻ như Matthew Taylor và Gary O’neil luôn là hành trang của Sân Fratton Park (sân nhà của CLB Portmouth). Sự trở lại giải ngoại hạng lần đầu tiên kể từ năm 1988 là rất xứng đáng với sự tận tuỵ của các cổ động viên. Theo một số quan sát viên mặc dù khởi đầu khó khăn nhưng Pompey (nickname của CLB Portsmouth) bỏ qua những lời chỉ trích giành được 21 điểm trong 10 trận đấu, xếp thứ 13 đáng nể ở giải ngoại hạng trong năm tiếp theo (2003/2004). Rdknapp ra đi tháng 11-2004 mở ra một kỷ nguyên mới cho Fratton Park do Alain Perrin dẫn dắt trong thời gian ngắn từ tháng 4 2005 đến tháng 11 cùng năm. thế nhưng Redknapp đã gây sốc bằng việc trở lại Fratton Park ngày 7-12-2005, để lại say đắng cho đối thủ Southampton để cứu nguy cho Pompey (Portsmouth) sau khi Perin mất chức vì sự khởi đầu yếu kém trong đầu mùa giải 2005/2006. Pompey đã được cứu thoát khỏi sự tụt hạng và trong mùa hè Redknapp đã bổ nhiệm cựu đội trưởng của Arsenal àm trợ lý của mình. Chủ tịch CLB Milan Mandaric xuống chức nhường lại quyền kiểm soát CLB cho Alexandre Gaydamak. Luôn đầy say mê, màu sắc và vang động Pompey đã được tiếp nhận vào tốp có thứ hạng cao nhất.

LỊCH SỬ CÂU LẠC BỘ

CLB bóng đá Portsmouth nguyên thuỷ được thành lập năm 1898 sau khi đội bóng địa phương Royal Artillery không còn được ưa chuộng. Một cuộc họp gồm 5 nhà kinh doanh và thể thao do luật sư Alderman LE Pink triệu tập đã quyết định đầu tư vào vùng đất mà sau này trở thành Fratton Park. Là thành viên của tốp 3 từ 1920, đội bóng của thành phố hải quân đã tham gia và phát triển mạnh trong giải hạng 3 (Phía Nam) ngay năm sau đó. Đội bóng có nickname là Pompey đứng đầu bảng trong mùa 1923-1924 và trong ngày cuối cùng đầy kịch tính của mùa 1927, đã thăng hạng lên giải hạng nhất, đẩy Manchester City xuống vị trí thăng hạng thứ hai với lợi thế về số bàn thắng trung bình nhỏ nhất 1/200 bàn. Thời kỳ giàu thành tích nhất của đội là dưới thời HLV huyền thoại Jack Tinn tiếp tục với Việc dự trận chung kết cúp FA năm 1929 và 1934. HLV Tinn lãnh đậo đội từ 1927 đến 1947 đã giúp Portsmouth giành được cúp FA danh năm 1939. Sau chiến tranh thế giới II Portsmouth tiếp tục là một trong những khu vực dẫn đầu, giành được cúp Liên đoàn liên tiếp các năm 1949, 1950. Thế nhưng CLB đã không giữ được những thành tích đó trong những năm 60 và 70, bị loại ra khỏi tốp cao nhất, thậm chí có lúc phải chơi một thời gian ngắn ở giải hạng 4. Nhưng Pompey đã tìm lại được chính mình, liên tiếp nâng hạng đầu những năm 80, vươn lên đỉnh cao trong mùa 1987-1988 và đứng trong tốp hạng nhất gần ba thập kỷ. Sau khi bị xuống hạng vào năm sau đó rất nhiều HLV đã cố gắng tìm cách đưa Portsmouth trở lại với những vinh quang trước đó. 16 năm sau đó Harry Redknapp cựu binh của đội ngoại hạng West Hamddaanx dắt CLB trở lại nhóm đỉnh cao của bóng đá.

THÀNH TÍCH CLB

1948-1949, 1949-1950 Vô địch Cúp Charity/Community Shield
1949 Vô địch F.A. CUP
1939 Vô địch LEAGUE CUP



15. Stoke City




16. Sunderland


THÀNH TÍCH Ở GIẢI NGOẠI HẠNG

Sunderland Association Football Club là CLB bóng đá chuyên nghiệp của Anh có trụ sở tại Stadium of Light ở Sunderland, Tyne and Wear, đông bắc nước Anh, hiện đang chơi tại giải ngoại hạng Anh. Sau 99 năm đóng đô tại sân Roker Park, năm 1997 Sunderland đã chuyển đến Stadium of Lighter (Sân vận động Ánh sáng)âtSaan vận động rất hiện đại là nơi gặp gỡ mơ ước của các cổ động viên nhất là khi giải tranh mới (tức giải ngoại hạng) bắt đầu. Trong năm đầu tiên thi đấu trên SVĐ mới CLB đã không thành công trong nỗ lực thăng lên giải ngoại hạng với thất bại trước Charlton bằng đá luân lưu penalty trong trận chung kết đấu loại tại sân Wembley. Sân Ánh sáng cuối cùng cũng được chào đón một trận đấu của giải ngoại hạng vào năm 1999 sau khi đội bật lên với chiến thắng quyết định giành được chức vô địch giải hạng nhất. Kevin Phillips nhanh chóng trở thành một tiền đạo đầy tiềm năng và vị trí thứ 7 trong mùa giải tiếp theo đã khẳng định vị trí của Sunderland trong tốp các đội hàng đầu. HLV Reid rời CLB tháng 10-2002 sau 7 năm dẫn dắt thành công CLB, báo hiệu một kỷ nguyên mới cho sân Ánh sáng. Cựu HLV Leeds United Howord Wilkinson đến thay một thời gian ngắn trước khi Mick McCarthy nhận dẫn dắt đội bóng. Khi McCarthy không ngăn được việc tụt hạng, Kevin Phillips chuyển đến Southhampton. Các cầu thủ Black Cats đã để lỡ cơ hội thăng hạng ở mùa tiếp theo khi thua Crystal Palace bằng đá luân lưu penalty. Được HLV kinh nghiệm Gary Breen dẫn dắt Sunderland đã kiếm được 94 điểm hơn đội thứ nhì Là igan Athletic 7 điểm, đội đã giành chức vô địch và được thăng hạng.

Giải liên đoàn

Vô địch giải hạng nhất 6 (1891/1892, 1892/1893, 1894/1895, 1901/1902, 1912/1913, 1935/1936)

Chung kết giải hạng nhất 5 (1893/1894, 1897/1898, 1900/1901, 1922/1923, 1934/1935)

Vô địch (hạng nhì) 2 (2004/2005, 2006/2007)

*Vô địch giải hạng nhất mới 2 (1995/1996, 1998/1999)

Vô địch gải hạng nhì (cũ) 1 (1975/1976)

Chung kết giải hạng nhì (cũ) 1 (1963/1964)

Vô địch giải hạng ba (cũ) 1 (1987/1988)

Cúp

FA Cup 2 ( 1936/1937, 1972/1973 )

FA Cup (chung kết) 3 ( 1912/1913, 1941/1942, 1991/1992 )

FA Youth Cup 2 ( 1967, 1969 )

League Cup (chung kết) 1 ( 1984/1985 )

War Cup (chung kết)1 (1942)

Charity Shield 1 (1936/1937 )

Sheriff of London Charity Shield Winners 1 ( 1902/1903 )

Charity Shield (chung kết) 1 ( 1937/1938 )



17. Tottenham Hotspur


LỊCH SỬ CLB

Câu lạc bộ bóng đá Tottenham Hotspur (tiếng Anh: Tottenham Hotspur Football Club) là một câu lạc bộ bóng đá ở London, thủ đô Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland. Câu lạc bộ còn có các tên gọi khác như Spurs, The Spurs, Tottenham hay Lilywhites. Sân nhà của câu lạc bộ là sân vận động White Hart Lane.

Câu lạc bộ được thành lập năm 1882 với tên gọi Hotspur Football Club. Cái tên này có liên quan với tên của Sir Henry Percy (Sir Harry Hotspur). Tuy nhiên, để tránh sự nhầm lẫn với một câu lạc bộ khác (London Hotspur), câu lạc bộ đổi tên thành Tottenham Hotspur như hiện nay.

Tottenham Hotspur chuyển sang chuyên nghiệp cuối năm 1895. Năm 1899, Spurs chuyển đến địa điểm mới, nay chính là nơi đặt sân vận động White Hart Lane. Tháng 4 năm 1901, Tottenham vô địch cúp FA sau khi thắng Sheffield United (lượt đi: 2-2; lượt về: 3-1) và trở thành đội bóng đầu tiên không chơi tại giải vô địch quốc gia đoạt được cúp này.

Mùa giải 1909-10, Tottenham giành quyền lên hạng nhất nhưng không giành bật cứ danh hiệu nào cho đến năm 1920, năm họ đoạt chức vô địch giải hạng 2. Việc câu lạc bộ phải xuống hạng 2 mùa giải đó được cho là do sự bịp bợm khi Arsenal thay thế vị trí Tottenham mặc dù Arsenal chỉ đứng thứ 6 giải hạng 2 mùa giải trước.

Ngày 23 tháng 4, Tottenham giành cúp FA lần thứ 2 sau khi đá bại Wolverhampton Wanderers 1-0 tại sân vận động Stamford Bridge. Tuy nhiên, sau chiến thắng này, Tottenham phải trải qua một giai đoạn xuống dốc rồi phải chơi ở giải hạng 2 từ năm 1928 đến năm 1950.

Năm 1951, Tottenham trở thành câu lạc bộ đầu tiên vô địch 2 hạng đấu trong 2 năm liên tiếp (giải hạng 2: 1950; giải hạng nhất: 1951). Các cầu thủ nổi tiếng thời gian này là Alf Ramsey, Ronnie Burgess, Ronnie Burgess, Len Duquemin, Sonny Walters và Bill Nicholson.

Năm 1958, Bill Nicholson trở thành quản lý mới và mở ra một thời kỳ huy hoàng cho câu lạc bộ. Các năm sau đó, Tottenham liên tục gặt hái nhiều danh hiệu. Đầu tiên là cú đúp vô địch Anh và cúp FA năm 1961. Năm sau tiếp tục đoạt cúp FA và vào bán kết cúp C1. Và giành cúp C2 năm 1963. Các cầu thủ nổi tiếng khi đó là Danny Blanchflower, John White, David Mackay, Cliff Jones và Jimmy Greaves.

Bill Nicholson một lần đoạt cúp FA năm 1967 với nhiều cầu thủ mới như Alan Gilzean, Mike England, Alan Mullery, Terry Venables, Joe Kinnear và Cyril Knowles. Mặc dù đoạt thêm 1 cúp UEFA năm 1972, 2 cúp Liên đoàn các năm 1971 và 1973 và lọt vào trận chung kết cúp UEFA năm 1974, nhưng Nicholson phải từ chức vì thành tích khởi đầu kém cỏi của mùa giải 1974-75.

Những năm đầu thập niên 1980, dưới sự dẫn dắt của Keith Burkinshaw, Tottenham giành chiếc cúp FA thứ 6 (1981) và 7 (1982) cùng với chiếc cúp UEFA thứ 2 (1984). Các cầu thủ quan trọng gồm Steve Archibald, Garth Crooks, Glenn Hoddle, Osvaldo Ardiles và Steve Perryman. Trong đó Steve Perryman đã chơi cho Spurs 655 ở giải vô địch trong 7 mùa bóng.

Từ đó đến cuối thế kỷ 20, Tottenham mới giành thêm 2 danh hiệu lớn gồm 1 cúp FA (1991) và 1 cúp Liên đoàn (1999). Các cầu thủ nổi tiếng đã chơi cho câu lạc bộ trong khoảng thời gian này có Paul Gascoigne, Gary Lineker, Jürgen Klinsmann, Gheorghe Popescu, Ilie Dumitrescu, Teddy Sheringham, Nick Barmby và Darren Anderton.

THÀNH TÍCH:

Vô địch liên đoàn (2): 1950-51, 1960-61

Siêu cúp BĐ Anh (8): 1921, 1951, 1961, 1962, 1967, 1981, 1991

Cúp FA (8): 1901, 1921, 1961, 1962, 1967, 1981, 1982, 1991

Cúp Liên đoàn (3): 1971, 1973, 1999

Cúp C2 châu Âu (1): 1963

Cúp UEFA (2): 1972, 198



18. Wolverhampton Wanderers




19. West Ham United


West Ham United Football Club là CLB bóng đá chuyên nghiệp của Anh có trụ sở ở Vùng Newham, London chơi trên sân nhà Boleyn Ground có sức chứa 35.146 chỗ ngồi kể từ năm 1904 đến nay.

CLB được thành lập năm 1895 với cái tên ban đầu là Thames Ironworks F.C (CLB BĐ Xưởng rèn sông Thames) sau đó vào năm 1900 đội được cải tổ và trở thành đội bóng như hiện nay. Đầu tiên West Ham thi đấu ở liên đoàn bóng đá Miền Nam, sau đó là LĐ BĐ Miền tây, đến năm 1919 thì gia nhập Liên đoàn bóng đá Anh và vươn lên đẳng cấp cao nhất năm 1923 đồng thời cũng từng vào đến trận chung kết cúp FA tổ chức ở Wembley. CLB chưa bao giờ rớt ra ngoài hai giải thi đấu cao nhất và đã giành được cúp FA 3 lần vào các năm 1964, 1975 và 1980, đồng thời cũng giành được một số cúp (nay đã không tổ chức nữa) như Cup Winners Cup năm 1965 và Intertoto Cup năm 1999. West Ham cũng giành được War Cup đầu tiên vào năm 1940. Vị trí cao nhất của CLB là đứng thứ 3 giải đấu cao nhất vào năm 1986 (tức giải hạng nhất khi chưa có giải ngoại hạng). West Ham vẫn còn giữ được nét độc đáo vì là CLB duy nhất trong lịch sử giải ngoại hạng đã vượt qua giới hạn 40 điểm mà vẫn bị xuống hạng (năm 2003). Hiện nay đội đang thi đấu ở giải ngoại hạng, sau khi xếp thứ 15 trong mùa giải 2006/2007 HLV mới Alan Curbishley được bổ nhiệm ngày 13-12-2006.

PREMIER LEAGUE PERFORMANCE

West Ham giành được quyền thi đấu ở giải ngoại hạng năm 2005 thông qua đấu loại và đội tiếp tục củng cố địa vị của mình trong nhóm xuất sắc nhất của bóng đá Anh. !0 năm có mặt ở giải ngoại hạng của "những cái búa", biệt danh của West Ham đã bị ngắt quãng bởi trận hoà kịch tính trong ngày cuối cùng của giải đấu với đội Birmingham City vào tháng 5 năm 2003, kết thúc một mùa giải chiến đấu vất vả vì sự tồn tại ở tầng lớp trên cùng của bóng đá. Dưới sự dẫn dắt của Billy Bonds và sau đó là của Harry Redknapp "những cái búa" đã trở lại với giải ngoại hạng và còn 4 lần trong vòng 5 năm ghi tên mình vào top-10 bóng đá Anh. Sau thời gian dài phục vụ và đưa đội bóng trở lại tốp hàng đầu của bóng đá của HLV Bonds, Redknapp đã từ vị trí trợ lý HLV bước lên nắm lấy bánh lái con tàu West Ham vào năm 1994 và đã thực hiện một cuộc tiến hoá từ một đội bóng chiến binh thành một CLB mạnh mẽ nhưng đặc sắc của giải ngoại hạng. Ở vị trí cánh, thay cho cầu thủ đã đá 7 năm Redknapp đưa về sân Boleyn Ground cầu thủ nổi tiếng người Italia Paolo Di Canio. Hệ thống đào tạo đội trẻ nổi tiếng của West Ham đã sản sinh ra những cầu thủ nổi tiếng là những ngôi sao của bóng đá Anh như: Joe Cole, Frank Lampard, Rio Ferdinand và Michael Carrick. Lối chơi thoáng và tấn công trở thành thương hiệu của West Ham mà các cầu thủ "những cái búa" trung thành với nó và không chấp nhận điều gì kém hơn thế. Người kế nhiệm của Redknapp là Glen Roeder tiếp trớn với việc về thứ 7 trong mùa giải đầu tiên của mình 2001/2002. Cuối mùa bóng2002/2003 Roeder bị ốm Và mặc dù ban lãnh đạo đội rất cố gắng cũng không ngăn được CLB bị rớt hạng. Alan Pardew thay thế từ tháng 10-2003 và trong mùa bóng đầu tiên của mình đã đưa đội bóng phía đông London tới trận chung kết đấu loại căng thẳng đến đứng tim trong đó đội bị thua Crystal Palace với tỷ số 0-1. Nhưng CLB đã không bị từ chối 12 tháng sau đó. Sau khi vxếp thứ sáu trong giải Coca-Cola, đội đã tiến đến trận chung kết đấu loại và đánh bại Preston giành môt suất thi đấu ở giải ngoại hạng lần thứ hai. CLB giành được vị trí thứ 9 đáng nể trong mùa 2005/2006 và một suất thi đấu ở cúp UEFA cũng như đã vào đến tận trận chung kết cúp FA. Mùa Hè 2006 "Những cái búa" đã thực hiện hai cuộc chuyển nhượng táo bạo, bán đi 2 cầu thủ quốc tế người Italia Carlos Tevez và Javier Mascherano.Nhà kinh doanh người Iceland Eggert Magnusson đã hoàn tất việc mua CLB từ tháng 10-2006. HLV Pardew bị sa thải sau khi đội bóng bị rớt xuống nhóm 3 đội dưới đáy bảng xếp hạng và HLV Alan Curbishley thay thế.

THÀNH TÍCH CỦA CLB:

Giải châu Âu

* European Cup Winners* Cup: Giành cúp: Năm 1964-65
* European Cup Winners* Cup: Chung kết: Năm 1975-76
* UEFA Intertoto Cup Giành cúp: 1999

Giải Liên đoàn

* Giải hạng nhất: Vị trí cao nhất thứ 3 mùa 1985-86
* Giải hạng nhì: Vô địch các mùa 1957-1958, 1980-81
* Giải hạng nhì: Vào đến trận chung kết các mùa 1922-1923, 1990-91, 1992-93
* Giải vô địch liên đoàn (Đấu loại): Vô địch năm: 2005
* Giải vô địch liên đoàn (Đấu loại): Vào chung kết: 2004
* Giải vô địch liên đoàn miền Tây: Vô địch mùa 1907/8

Cúp

* FA Cup Đoạt cúp các năm: 1964, 1975, 1980
* FA Cup Vào chung kết các năm: 1923, 2006
* Cúp Liên đoàn: Vào chung kết các năm: 1966, 1981
* Cúp Charity Shield: 1964
* Football League War Cup: Giành cúp năm 1940



20. Wigan Athletic


THÀNH TÍCH GIẢI NGOẠI HẠNG

Dưới sự dẫn dắt của ông Dave Whelan, Chủ tịch và chủ sở hữu CLB Wigan Athletic đã phát triển đáng kể trong thập niên qua và tiến tới giải bóng đá cao nhất Barclays Premiership. Trong khi MU giành thắng lợi trong cuộc cạnh tranh đầu tiên của giải ngoại hạng năm 1993 thì Wigan Athletic bị gạt xuống hạng 3 và năm sau rơi xuống thứ 19 là vị trí thấp nhất mà CLB từng có trong giải Liên đoàn. Nhưng mọi thứ đã thay đổi khi Whelan lãnh tụ tối cao của hệ thống cửa hàng thể thao JJB nắm Wigan Athletic năm 1995. Cựu cầu thủ của Blackburn Rovers lập tức lộ rõ ý đồ của mình bằng việc ký hợp đồng với cái gọi là “bộ ba” gồm Isidro Diaz, Jesus Seba và Roberto Martinez. Dưới sự chỉ đạo của cựu giám đốc CLB Norwich City John Deehan, CLB đã giành được quyền lên chơi ở giải hạng 2 vào năm 1997 giành được danh hiệu từ những bàn thắng trước Fullham và trong năm 1999 họ đã rời Springfield Park để đến ngôi nhà mới đầy ấn tượng là sân vận động JJB. Sau thất bại trong trận chung kết đầy kịch tính năm 2001 sau đó khi Gillingham giành được liên tiếp hai bàn thắng trong 7 phút cuối của trận đấu và giật chiến thắng sát nút 3-2, thủ môn Roy Carroll ký hợp đồng với MU và giám đốc Steve Bruce chuyển sang Crystal Palace sau 6 tuần tại chức. Cựu cầu thủ Paul Jewell được cử thay thế. Nathan Ellington đến CLB từ Bristol Rovers với phí CLB kỷ lục trong năm 2002 và trong năm 2003, Wigan giành luôn 14 điểm tiến tới danh hiệu vô địch nhóm 2 như một cơn lốc và giành được tới 100 điểm trong mùa giải. Ngay sau thất bại trong vòng loại 2004, Wigan hoàn thành sự thăng tiến đến nhóm hàng đầu trong năm 2005, giành được quyền lên hạng với chiến thắng 3-1 trước Reading trong trận chung kết. Với cặp cầu thủ Ellington và Jason Roberts mới được ghi tên vào đội hình tiêu biểu của mùa giải, CLB đã giành được 45 bàn thắng và kết thúc với vị trí thứ hai sau Sunderland. Trong mùa giải lần đầu tiên được chơi ở hạng cao nhất, các chàng trai của Jewell đã bất chấp những tiên đoán trước mùa giải về sự tụt hạng và đứng thứ 10 cũng như vào đến tận trận chung kết cúp liên đoàn nhưng bị thua MU. Mùa giải sau còn diễn ra kịch tính hơn với chiến thắng cuối cùng trước Sheffield United và duy trì được địa vị hàng đầu của đội cùng với sự ra đi của Jewell được thay thế bằng Chris Hutchings.

LỊCH SỬ CÂU LẠC BỘ

Wigan Athletic (WA) được thành lập năm 1932 là CLB bóng đá thứ 5 trong thị trấn, các đội Wigan County, Wigan United, Wigan Town và Wigan Borough đã được thành lập trước. 46 năm sau đó, sau 34 lần cố gắng Wigan Athletic được chọn vào Liên đoàn Bóng đá, loại Southport với số phiếu 29 so với 20. Trận đấu đầu tiên với tư cách là CLB trong Liên đoàn kết thúc với tỷ số 0-0, hoà với Hereford ở Edgar Street. Bốn năm sau đó CLB được thăng lên giải hạng 3 và sau 21 trận bất bại đã kết thúc ở vị trí thứ ba sau Sheffield United và Bradford City. Năm 1985 WA đánh bại Brentford 3-1ở sân Wembley để giành cúp Freight Rover và 2 năm sau đó vào đến vòng 6 cúp FA, lần duy nhất trong lịch sử của CLB, thua Leed United 2-0. Wigan bị tụt xuống giải hạng 3 mới năm 1993 khi mà Giải ngoại hạng bắt đầu được tổ chức. Vận rủi không có gì thay đổi cho đến khi nhà kinh doanh ở địa phương Dave Whelan mua CLB năm 1995. Năm 1997 chiến dịch đưa WA lên vị trí hàng đầu bắt đầu khi CLB giành được quyền chơi ở giải hạng 2 và giành được danh hiệu nhờ những bàn thắng vào lưới Fullham sau khi đã cjiến thắng Mansfield 2-0 trên sân nhà.Cũng trong mùa giải đó CLB đã thắng Scarborough 7-1, trận thắng đậm nhất trong lịch sử CLB. Việc chuyển đến sân JJB và giành cúp Auto Windscréen tiếp theo năm 1999, nhưng mãi đến 2003 WA dưới sự lãnh đạo của Paul Jewell CLB mới được thăng hạng lên giải hạng 2. Cũng không phải chờ đợi lâu để giấc mơ của Dave Whelan trở thành hiện thực khi Wigan về nhì trong giải Liên đoàn năm 2005 và lần đầu tiên được thăng lên giải ngoại hạng.

NHỮNG THÀNH TÍCH CỦA CÂU LẠC BỘ

Vô địch LEAGUGE CUP
Vô địch CHARITY/COMMUNITY SHIELD CUP
Vô địch F.A. CUP WINNERS

Các bài viết cùng chủ đề
chienbinhbongda's Inventory
3D MU MUH Logo MU nắp Chai Giày vàng T12-2008 Giày vàng T11 chienbinhbongda 7k


Chữ ký của chienbinhbongda The Red Delvil is Champions of The World


thay đổi nội dung bởi: chienbinhbongda, 07-08-2009 lúc 06:38 PM.
Đã có 3 người dùng đã nói cảm ơn tới chienbinhbongda cho bài viết có ý nghĩa:
Aresius (26-05-2009), David "LonelyCowboy" Thai (02-07-2009), KienNT (25-05-2009)
 
 
Ðề tài đã khoá

 
Bookmarks
 


Ðang đọc: 1 (0 thành viên và 1 khách)
 
Ðiều Chỉnh
Xếp Bài

Quuyền Hạn Của Bạn
You may not post new threads
You may not post replies
You may not post attachments
You may not edit your posts

BB code is Mở
Smilies đang Mở
[IMG] đang Mở
HTML đang Tắt
Trackbacks are Mở
Pingbacks are Mở
Refbacks are Mở


Chủ đề tương tự
Ðề tài Người Gởi Chuyên mục Trả lời Bài mới gửi
[Hot] MrFCN 2009 - Đăng ký tham gia Kaito Kid Vui chơi có thưởng 18 05-06-2009 01:50 PM


Múi giờ GMT +8. Hiện tại là 10:50 AM.



Diễn đàn được xây dựng bởi:
Admin Magicvn: Vũ Anh Tuấn
Admin Ninh bụi - Trần Quang Ninh
Và được phát triển bởi tất cả các thành viên trong diễn đàn
vBCredits v1.4 Copyright ©2007 - 2008, PixelFX Studios
CopyRight by: Quang Ninh Trần

 

Search Engine Friendly URLs by vBSEO 3.5.0 RC2